Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9- CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125 /2025/DS-ST

Ngày: 25 tháng 12 năm 2025

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN DÂN NHÂN KHU VỰC 9- CÀ MAU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Bé Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Thái Hiệp

2. Ông Nguyễn Thành Đến

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9- Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 9- Cà Mau mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 54/2025/TLST- DS, ngày 17 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 297/2025/QĐXXST- DS ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng N (NN&PTNT) Việt Nam

-Địa chỉ: B L, phường G, Thành phố Hà Nội.

-Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Toàn V

-Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng N1

-Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Tấn H

-Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N1 - chi nhánh H2, Bạc Liêu.

Người được ủy quyền lại:

1. Ông Hồ Quang H1; Chức vụ: Phó Giám đốc A, chi nhánh H2, Bạc Liêu (có mặt)

*Bị đơn: Ông Lương Văn T, sinh năm 1977, bà Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp C, xã V, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Văn C, sinh ngày 01/01/1943 và bà Trần Thị C1, sinh ngày 01/01/1950; Địa chỉ: ấp K, xã H, tỉnh Cà Mau. (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Hồ Quang H1 trình bày:

Ngày 07/8/2017, Ngân hàng N, chi nhánh H2 - Bạc Liêu với ông Lương Văn T, bà Nguyễn Hồng T1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 7205LAV201702223. Theo đó ngày 09/8/2017, Ngân hàng đã giải ngân cho ông T, bà T1 vay với số tiền gốc là 900.000.000 đồng (giải ngân 01 lần); Mục đích vay: Sữa chữa nhà ở; Phương thức cho vay: Từng lần; Trả lãi 06 tháng/lần; lãi suất vay: 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm quá hạn, lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên Ngân hàng N1- Chi nhánh huyện H2 với ông Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng số 7205LCP20170708 ngày 07/08/2017, tài sản thế chấp gồm có:

  • Quyền sử dụng đất thứ nhất số AM 642045, loại đất: Đất trồng lúa; thửa đất số 401; tờ bản đồ số 03, diện tích: 14.246,6 m² do UBND huyện H cấp ngày 05/12/2009.
  • Quyền sử dụng đất thứ hai số AM 642046, loại đất: Đất ở nông thôn, đất trồng cây lâu năm; thửa đất số 31; tờ bản đồ số 39, diện tích: 188,7 m² do UBND huyện H cấp ngày 07/12/2009.

Từ khi vay tiền, ông T bà T1 có thanh toán cho Ngân hàng được số tiền gốc 450.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh là 222.999.419 đồng. Nhưng từ ngày 19/9/2019 đến nay ông T, bà T1 không thanh toán nợ lãi cho Ngân hàng nên đã vi phạm nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận đã ký kết và số tiền lãi chưa thanh toán tính đến ngày 12/12/2025 là 455.852.597 đồng. Vì vậy Ngân hàng yêu cầu giải quyết:

  • Buộc ông Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 phải thanh toán nợ vay với tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 897.000.000 đồng, trong đó: Nợ gốc: 450.000.000 đồng, nợ lãi: 447.000.000 đồng và các khoản lãi, chi phí phát sinh tính theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày tiếp theo cho đến khi hoàn thanh nghĩa vụ trả nợ vay chi Ngân hàng.
  • Trường hợp ông Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 9- Cà Mau tuyên phát mãi tài sản đã thế chấp nêu trên để thu hồi nợ vay đúng quy định.

*Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/8/2025 và lời khai tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Hồng T1 và ông Lương Văn T trình bày: Ông, bà có vay của Ngân hàng N1 cho đến nay còn nợ gốc là 450.000.000 đồng. Khi vay có thế chấp tài sản gồm:

  • Quyền sử dụng đất số AM 642045 loại đất trồng lúa; thửa đất 401, tờ bản đồ số 03 diện tích 14.246,6m² do UBND huyện H cấp ngày 05/12/2009;
  • Quyền sử dụng đất số AM 642046 loại đất ở nông thôn; thửa đất 31, tờ bản đồ số 39 diện tích 188,7m² do UBND huyện H cấp ngày 07/12/2009.

Do tình hình kinh tế khó khăn nên chúng tôi không thanh toán được hết một lần số tiền hiện còn nợ Ngân hàng. Chúng tôi xin Ngân hàng giải quyết tiếp tục thu lãi hàng tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết lãi. Do trên đất thế chấp có căn nhà là nơi cha mẹ là ông Lương Văn C và bà Trần Thị C1 đang ở nên chúng tôi không đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản mà chúng tôi đã thế chấp cho Ngân hàng.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn C và bà Trần Thị C1 trình bày: Phần đất ông T bà T1 đã thế chấp cho Ngân hàng là tài sản của ông bà và đã tặng cho vợ chồng ông T, bà T1. Hiện ông bà đang ở và quản lý, sử dụng thửa đất thế chấp số 39, tờ bản đồ số 31. Nếu phát mãi phần đất này dính đến căn nhà hiện ông bà đang ở, đây là nơi ở duy nhất nên ông bà không đồng ý với yêu cầu phát mãi tài sản đối với thửa đất này của Ngân hàng. Đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng bà T1 ông T trả dần số tiền nợ cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay các đương sự, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung vụ án:
    1. Chấp yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với ông Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1.
    2. Buộc ông Dương Văn T2 và Nguyễn Hồng T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 25/12/2025 là 907.464.154 đồng. Trong đó, khoản vay gốc của hợp đồng tín dụng số 7205LAV201702223, ngày 07/8/2017 là 450.000.000 đồng, lãi trong hạn là 456.887.579 đồng, lãi quá hạn là 576.575 đồng.

      Trong trường hợp ông Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ cho Ngân hàng N, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản ông Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ.

    3. Về Chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 phải chịu toàn bộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Nguyên đơn Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lương Văn T và Nguyễn Hồng T1 thanh toán nợ vay và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp cho Ngân hàng nên là tranh chấp hợp đồng tín dụng, đồng thời đồng bị đơn có nơi cư trú tại xã V, tỉnh Cà Mau nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9- Cà Mau.

[2] Về việc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn C và bà Trần Thị C1 có đơn xin vắng mặt nên nên Tòa án căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Về nội dung vụ án:

[3] Xét yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu ông T bà T1 trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, thấy rằng: Hợp đồng tín dụng số 7205LAV201702223, ngày 07/8/2017 giữa Ngân hàng N1 với ông T, bà T1 đã ký Hợp đồng hạn mức tín dụng. Theo đó, Ngân hàng đã giải ngân cho ông T, bà T1 một lần số tiền gốc là 900.000.000 đồng vào ngày 09/8/20217; Mục đích vay: Sữa chữa nhà ở; Trả lãi 06 tháng/lần; lãi suất vay: 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm quá hạn, lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Từ khi vay tiền, ông T bà T1 có thanh toán cho Ngân hàng được số tiền gốc 450.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh là 222.999.419 đồng. Nhưng từ ngày 19/9/2019 ông T, bà T1 không thanh toán nợ lãi cho Ngân hàng nên đã vi phạm nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận đã ký kết và số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán tính đến ngày 25/12/2025 là 456.887.579 đồng.

Xét thấy, hợp đồng tín dụng đã được ký kết đúng theo quy định pháp luật. Do ông T bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán lãi theo hợp đồng các bên đã ký kết nên Ngân hàng yêu cầu trả tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn của Ngân hàng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ. Buộc ông T, bà T1 có nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng với tổng số tiền là 907.464.154 đồng.

[4]. Xét yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu phát mãi bán đấu giá tài sản thế chấp trong trường hợp ông T, bà T1 không trả được nợ cho Ngân hàng:

[4.1] Để đảm bảo các khoản vay trên, ông T bà T1 có ký hợp đồng thế chấp tài sản số 7205LCP20170708 ngày 07/08/2017, tài sản thế chấp gồm có:

  • Quyền sử dụng đất thứ nhất số AM 642045, loại đất: Đất trồng lúa; thửa đất số 401; tờ bản đồ số 03, diện tích: 14.246,6 m² do UBND huyện H cấp ngày 05/12/2009.
  • Quyền sử dụng đất thứ hai số AM 642046, loại đất: Đất ở nông thôn, đất trồng cây lâu năm; thửa đất số 31; tờ bản đồ số 39, diện tích: 188,7 m² do UBND huyện H cấp ngày 07/12/2009.

[4.2] Qua xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/8/2025, phần đất bà T1, ông T thế chấp cho Ngân hàng gồm 02 thửa:

  • *Thửa số 31; tờ bản đồ số 39 có các tài sản do ông C bà C1 xây cất gồm: Căn nhà cấp 4 (xây dựng năm 2015) ngang 7,2m, dài 14,7m; kết cấu cột bê tông cốt thép, vách xây gạch 10 có tô, đở mái gỗ nhóm 4, trần đóng la phong xốp, nền lát gạch men. Có nhà tắm, nhà vệ sinh (có hầm tự hoại), 02 phòng ngủ, 01 đồng hồ điện; Sân xi măng: ngang 08m, dài 10,5m
  • *Thửa 401, tờ bản đồ số 03: Thửa đất này hiện ông T, bà T1 đang quản lý, sử dụng: thả tôm càng, sú và cua.

Cả hai thửa đất hiện tọa lạc tại ấp K, xã H, tỉnh Cà Mau.

[4.3]. Xét thấy Hợp đồng thế chấp được ký kết giữa các bên có chứng thực tại UBND xã L đúng theo quy định, được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H đúng quy định; các Quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của ông T, bà T1 và tài sản trên đất thế chấp tại thửa 31 là tài sản của ông C bà C1 đang quản lý, sử dụng, do ông bà hiện chỉ có phần đất này là chỗ ở và canh tác duy nhất nên không đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp nhưng khi thế chấp tài sản đã thế chấp đất và tài sản trên đất không có căn cứ chấp nhận ý kiến của ông C bà C1. Cho nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N1 về việc yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp hai bên đã ký kết. Trường hợp ông T, bà T1 không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Tuy nhiên: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 31 tờ bản đồ số 39 có tài sản trên đất thế chấp là của ông Lương Văn C bà bà Trần Thị C1. Các tài sản hình thành trên đất là công sức đóng góp của ông C bà C1 nên Căn cứ theo quy định tại Án lệ số 11/2017 thì: “Trường hợp bên nhận thế chấp, bên thế chấp thoả thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản đảm bảo là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất” thì “cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua”. Do vậy cần ưu tiên cho ông C bà C1 nếu có nhu cầu mua quyền sử dụng đất khi Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên.

[5]. Về án phí: Buộc ông Lương Văn T bà và Nguyễn Hồng T1 phải chịu theo quy định.

[6]. Về chi phí tố tụng: Lương Văn T bà và Nguyễn Hồng T1 phải chịu toàn bộ.

[7] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 323, Điều 325 Bộ luật Dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 91; Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Án lệ số 11/2017/AL;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với ông Lương Văn T bà và Nguyễn Hồng T1.

Buộc ông Lương Văn T bà và Nguyễn Hồng T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 25/12/2025 là là 907.464.154 đồng. Trong đó, nợ gốc là 450.000.000 đồng, lãi trong hạn là 456.887.579 đồng, lãi quá hạn là 576.575 đồng.

Kể từ ngày 26/12/2025 ông Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

2. Trường hợp ông Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 không thanh toán nợ cho Ngân hàng N, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ, gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất như sau:

  • *Thửa số 31, tờ bản đồ số 39 có các tài sản do ông C bà C1 xây cất gồm: Căn nhà cấp 4 (xây dựng năm 2015) ngang 7,2m, dài 14,7m; kết cấu cột bê tông cốt thép, vách xây gạch 10 có tô, đở mái gỗ nhóm 4, trần đóng la phong xốp, nền lát gạch men. Có nhà tắm, nhà vệ sinh (có hầm tự hoại), 02 phòng ngủ, 01 đồng hồ điện; Sân xi măng: ngang 08m, dài 10,5m.
  • *Thửa 401, tờ bản đồ số 03: Thửa đất này hiện ông T, bà T1 đang quản lý, sử dụng: thả tôm càng, sú và cua.

Cả hai thửa đất hiện tọa lạc tại ấp K, xã H, tỉnh Cà Mau.

3. Ông Lương Văn C và bà Trần Thị C1 được quyền ưu tiên nếu có nhu cầu mua quyền sử dụng đất tại thửa đất số 31 tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp K, xã H, tỉnh Cà Mau khi Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên. Nếu ông C, bà C1 không có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên đã thế chấp thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 31 tờ bản đồ số 39, có địa chỉ tại ấp K, xã H, tỉnh Cà Mau nhưng phải thanh toán trả lại cho ông C bà C1 giá trị xây dựng của các công trình, tài sản trên đất thế chấp. Nếu sau khi phát mãi tài sản đảm bảo mà số tiền vẫn không đủ trả nợ thì buộc ông T bà T1 phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.

4. Về án phí: Buộc Lương Văn T và bà Trần Thị C1 phải nộp án phí dân sự có giá ngạch số tiền là 39.224.000 đồng.

Ngân hàng N không phải chịu án phí. Số tiền Ngân hàng đã dự nộp án phí là 21.81.000 đồng theo biên lai thu số 0011392, ngày 16/7/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Cà Mau nay được hoàn lại toàn bộ số tiền trên.

5. Về Chi phí tố tụng và án phí: Tổng chi phí tố tụng đã chi là 800.000 đồng. Buộc Lương Văn T và bà Nguyễn Hồng T1 phải nộp số tiền 800.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng N. Ngân hàng N đã dự nộp chi phí tố tụng với số tiền 10.000.000 đồng đã chi hết 800.000 đồng nên được hoàn lại số tiền 9.200.000 đồng tại Tòa án nhân dân khu vực 9- Cà Mau.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Các Vị hội Thẩm Nhân Dân

Lại Thiện Phong Nguyễn Thành Đ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lâm Bé Nhi

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND khu vực 9- Cà Mau;
  • - Phòng THADS khu vực 9- Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2025/DS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 125/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu Cầu TRả TIền VAY
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger