TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Kim Đào;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thúy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/HSST ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 127/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị S, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1970, tại: Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1952 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1951; hiện trú tại: Khu phố L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có năm người con, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Trần V, sinh năm 1967; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997; Tiền sự, tiền án: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 23/11/2012, bị Công an phường Đ, thành phố Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.000.000 đồng (đã chấp hành).
- + Ngày 06/7/2015, bị Công an phường Đ, thành phố Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.000.000 đồng (đã chấp hành).
- + Ngày 29/12/2019, bị Công an phường Đ, thành phố Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.500.000 đồng (đã chấp hành).
Bị cáo Nguyễn Thị S bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” từ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024 và chuyển “Tạm giam” tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, sau đó được thay thế bằng biện pháp “Bảo lĩnh” từ ngày 21/6/2024 đến nay. Có mặt.
Những người tham gia tố tụng:
Người làm chứng: Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm: 1957; trú tại: Số A đường L, Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, Nguyễn Thị S chuẩn bị giấy, bút rồi đi bộ từ nhà đến khu vực trước kiệt số A đường L thuộc khu phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, đề.
* Hình thức đánh bạc như sau:
Khi có người đến mua lô, đề, Nguyễn Thị S ghi số lô, đề cùng số tiền vào một mảnh giấy được cắt từ tờ giấy A4 rồi đưa cho người mua lô, đề giữ, đồng thời Sinh ghi chép các số lô, đề đã ghi trong ngày vào một tờ trắng (gọi là tờ tổng hợp lô đề). Nội dung ghi gồm các mục: ngày, tháng đánh lô đề, địa phương xổ số, các giải đánh và số tiền đánh lô đề (số tiền đánh bạc chỉ ghi các số từ hàng nghìn trở lên, không ghi các số ở hàng trăm, chục và đơn vị, hàng trăm nghìn thì ghi chữ “x”, hàng triệu thì ghi chử “c”). Đến khoảng 17 giờ 05 phút hàng ngày, có một người phụ nữ tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đến thu tờ tổng hợp lô đề để chuyển cho “cái đề”. Số tiền đã bán lô, đề trong ngày, S giữ lại để trích tiền hoa hồng cho mình và thanh toán tiền trúng thưởng cho những người mua lô đề. Nếu còn dư tiền thì hôm sau S sẽ đưa tiền cho H1, nếu thiếu thì H1 sẽ đưa bù tiền cho S.
* Cách thức đánh và tính giải lô đề dưới hình thức ghi đề thông qua kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh Miền Trung như sau:
- Đánh giải Độc đắc (Đặc biệt), 6 lô, 17 lô: số đánh lô đề gồm ba chữ số tự nhiên bất kỳ.
- Đánh các giải 18 lô, Đ, Đ1, Đ + Đuôi thì số đánh lô đề gồm hai chữ số tự nhiên bất kỳ.
Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết trong ngày mà người mua lô đề đã đánh để dò kết quả trúng lô đề và căn cứ số tiền ghi trong phơi để trả tiền trúng lô đề, cụ thể:
- Đánh giải Độc đắc (Đặc biệt): số đánh lô đề gồm ba chữ số tự nhiên bất kỳ, dò ở ba số cuối của giải Đặc biệt, tỷ lệ thắng là 1x600.
- Đánh giải 6 lô: số đánh lô đề gồm ba chữ số tự nhiên bất kỳ, dò ở ba số cuối của các số của giải năm, sáu, bảy và giải đặc biệt, tỷ lệ thắng 1x100/1 lô.
- Đánh giải 17 lô: số đánh lô đề gồm ba chữ số tự nhiên bất kỳ, dò số ở ba số cuối của tất cả các giải (trừ giải tám), tỷ lệ thắng 1x29/1 lô.
- Đánh giải 18 lô: số đánh lô đề gồm hai chữ số tự nhiên bất kỳ, dò ở giải tám và hai số cuối của tất cả các số của tất cả các giải, tỷ lệ thắng 1x5/1 lô.
- Đánh giải Đầu: số đánh lô đề gồm hai chữ số tự nhiên bất kỳ, dò ở giải tám, tỷ lệ thắng 1x70.
- Đánh giải Đuôi: số đánh lô đề gồm hai chữ số tự nhiên bất kỳ, dò ở hai số cuối của giải đặc biệt, tỷ lệ thắng 1x70.
- Đánh giải Đầu + Đuôi: số đánh lô đề gồm hai chữ số tự nhiên bất kỳ, dò ở giải tám và hai số cuối của giải đặc biệt, tỷ lệ thắng 1x35.
* Tỷ lệ hưởng lợi (phần trăm hoa hồng):
“Cái đề” sẽ trích cho S 08% tổng số tiền ghi lô đề đối với giải 18 lô và 29% số tiền ghi lô đề đối với các giải khác. Sinh sẽ trích lại cho người tham gia đánh bạc (mua lô đề) 05% số tiền đối với giải 18 lô và 25% số tiền đối với các giải khác. Như vậy, S được hưởng lợi 03% số tiền đối với giải 18 lô và 04% số tiền đối với các giải khác.
Ngày 22/5/2024, Nguyễn Thị S đã bán số lô, đề thông qua kết quả xổ số kiến thiết thành phố Đà Nẵng cho nhiều người qua đường (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến mua lô, đề trực tiếp với số tiền 9.613.000 đồng và Nguyễn Trọng H (sinh năm 1957, trú tại: Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ) sử dụng điện thoại di động gửi tin nhắn cho S để mua lô, đề với số tiền 95.000 đồng. Tổng cộng số tiền S bán được là 9.708.000 đồng, tuy nhiên do người mua lô, đề còn nợ tiền nên S mới thu được 5.070.000 đồng.
Tại thời điểm Nguyễn Thị S bị lực lượng Công an phát hiện, chưa có kết quả xổ số kiến thiết thành phố Đà Nẵng ngày 22/5/2024.
Tại Kết luận giám định số 621/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Chữ số, chữ viết trên tài liệu cần giám định với chữ số, chữ viết trên tài liệu mẫu so sánh (bản tự khai của Nguyễn Thị S) do cùng một người viết ra.
Bản cáo trạng số 123/CT-VKS-ĐH ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Thị S về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “Đánh bạc".
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Sinh từ 23.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, gắn sim không kiểm tra chi tiết bên trong, đã qua sử dụng, là của bị cáo dùng nhắn tin ghi đề của ông Nguyễn Trọng H, nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell, màu đen, số IMEI 1: 970701600164783, gắn sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với lời khai của người làm chứng. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 22/5/2024, tại khu vực trước kiệt số A đường L thuộc khu phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Thị S đã có hành vi bán số lô, đề thông qua kết quả xổ số kiến thiết thành phố Đà Nẵng cho nhiều người qua đường (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến mua lô, đề trực tiếp với số tiền 9.613.000 đồng. Ông Nguyễn Trọng H sử dụng điện thoại di động gửi tin nhắn cho Nguyễn Thị S để mua lô, đề với số tiền 95.000 đồng. Tổng cộng số tiền Nguyễn Thị S bán được là 9.708.000 đồng, tuy nhiên do người mua lô, đề còn nợ tiền nên Nguyễn Thị S mới thu được 5.070.000 đồng. Tại thời điểm Nguyễn Thị S bị lực lượng Công an phát hiện, chưa có kết quả xổ số kiến thiết thành phố Đà Nẵng ngày 22/5/2024.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị S đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, mẹ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, bị cáo có nhân thân xấu. Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử nhận thấy nên áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ điều kiện răn đe giáo dục đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, gắn sim không kiểm tra chi tiết bên trong, đã qua sử dụng, là của bị cáo dùng nhắn tin ghi đề cho ông Nguyễn Trọng H, nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell, màu đen, số IMEI 1: 970701600164783, gắn sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- + 01 (một) tờ giấy vở ô ly bên trên mặt giấy ghi tổng hợp bảng đề; 01 tờ giấy lịch bên trên mặt giấy ghi tổng hợp bảng đề. Đây là tài liệu chứng cứ của vụ án nên được lưu theo hồ sơ vụ án.
- + 01 (một) tờ giấy than; 05 tờ giấy A4, hình vuông cắt nhỏ dùng để ghi phơi đề. Cần tịch thu tiêu huỷ.
- + Tiền Ngân hàng N: 5.070.000 đồng là do bị cáo bán lô đề mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
[6] Về các vấn đề liên quan khác:
Đối với Nguyễn Trọng H cùng tham gia đánh bạc nhưng do hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với người phụ nữ tên H1 thu bảng tổng hợp lô đề của Nguyễn Thị S hàng ngày và “cái đề” do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với các đối tượng khác tham gia đánh bạc (mua lô đề) do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
[7] Huỷ bỏ Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 27/2024/QĐ-TA ngày 19/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đông Hà đối với bị cáo Nguyễn Thị S.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) tờ giấy than và 05 tờ giấy A4, hình vuông cắt nhỏ dùng để ghi phơi đề.
Trả lại cho bị cáo:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell, màu đen, số IMEI 1: 970701600164783, gắn sim, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, gắn sim không kiểm tra chi tiết bên trong, đã qua sử dụng.
- - Tiền Ngân hàng N: 5.070.000 đồng (Năm triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng).
Các vật chứng trên có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Riêng khoản tiền 5.070.000 đồng (Năm triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng) được nộp vào tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà số 3949.0.1047875.00000 mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị S phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 121/2024/HSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về đánh bạc
- Số bản án: 121/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị S
