Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HSST

Ngày: 01/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Tuất.
    2. Bà Nguyễn Thị Thắm.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/TLST-HS ngày 28/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 36/2024/HPT-QĐ ngày 17/6/2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN VINH Q

, sinh năm 1999; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã L, huyện T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Tuấn A và con bà Nguyễn Thị C; Vợ: Nguyễn Hoài A1, có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/5/2018, Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong án phạt tù ngày 17/02/2019 (đã xoá án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/04/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Tạ Trung T, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Số D, ngõ T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Phạm Chánh T1, sinh năm 1989.
  • Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện T, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.
  • + Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1985.
  • Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện T, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.
  • + Anh Bùi Nhật M, sinh năm 2003
  • Địa chỉ: Số G đường H, phường H, quận H, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 5 giờ ngày 31/3/2024, Nguyễn Vinh Q1 dùng điện thoại Iphone 6Plus đăng nhập vào mạng tài khoản Facebook của Q1 có tên “Nguyen Vinh Q1” vào nhóm xã hội “mua bán điện thoại cũ” và thấy anh Tạ Trung T (sinh năm: 2002- NKTT: số D ngõ T, phường T, Đ, Hà Nội) có tài khoản mang tên “Nợ mẹ một nàng dâu” đăng bán điện thoại Iphone Xsmax cũ màu đen, Q1 nhắn tin qua Mesenger thỏa thuận giá mua là khoảng 5.000.000 đồng. Q1 hẹn anh T xem điện thoại để mua tại trường Mần non B P, L, T, Hà Nội. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày anh T thuê anh Đinh Văn T3 (sinh năm: 1995, HKTT: Ngõ A, xã T, T, Hà Nội) làm nghề xe ôm Grab B chở đến gặp Q1. Khi đến cổng Đ thôn P, xã L thì anh T gặp Q1. Lúc này, do hết tiền nên Q1 nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh T, Q1 nói dối với anh T chở Q1 đi về nhà kiểm tra và xem máy để mua và thanh toán tiền, Q1 chỉ dẫn đến số nhà F thôn P là nhà chị Nguyễn Thị T4 (sinh năm: 1970 -là bác của Q1), tại cổng nhà chị T4, Q1 bảo anh T đưa máy điện thoại để Q1 xem, Q1 cầm máy xem một lúc rồi nói đồng ý mua với giá 5.000.000 đồng, Q1 nói là mang điện thoại vào nhà cho vợ xem máy nếu vợ đồng ý thì mua và chuyển khoản tiền ngay cho anh T. Sau đó Q1 cầm máy điện thoại đi nhanh vào trong cổng nhà chị T4 rồi ra phía sau khu nhà cho thuê trọ của gia đình nhà chị T4, trèo qua bờ tường chạy ra ngoài vườn đến khu đất tái định cư có nhiều thùng container nhằm trốn tránh bị phát hiện. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Q1 nhìn thấy cháu Phạm Gia B1 (sinh năm: 2012 là con anh Phạm Chánh T1 (sinh năm: 1989, NKTT: Thôn P, xã L, huyện T, Hà Nội) đi xe đạp qua nên đưa chiếc điện thoại cho cháu Phạm Gia B1 nói đưa cho anh T1 mang bán hộ, anh T1 mang chiếc điện thoại đến cửa hàng điện thoại do anh Phạm Văn T2 (sinh năm: 1985 ở thôn P, xã L, huyện T, Hà Nội) làm chủ bán lấy 2.000.000 đồng, anh T2 chuyển số tiền 2.330.000 đồng từ số tài khoản 1019208944 ngân hàng V mang tên Phạm Văn T2 vào số tài khoản 82001171211999 ngân hàng MB mang tên Nguyễn Vinh Q1 (trong đó 2.000.000 đồng tiền mua máy điện thoại, 330.000 đồng anh T1 trả nợ Q1 tiền vay từ trước). Sau đó anh T2 vào mạng xã hội đăng bán chiếc điện thoại vừa mua của T1, thỏa thuận bán cho tài khoản có tên “Bùi M” số điện thoại 0326.391.xxx là anh Bùi Nhật M (sinh năm: 2003, NKTT: 79 đường H, phường H, quận H, Hà Nội), khoảng 20 giờ ngày 05/4/2024, tại phố Bà T5 anh T2 gặp anh M để bán chiếc điện thoại với giá 3.700.000 đồng, anh M trả tiền cho anh T2 qua internet bankink và cầm điện thoại về sử dụng. Sau khi phát hiện bị lừa anh Tạ Trung T đã đến Công an xã L, T trình báo về nội dung sự việc trên.

Ngày 08/4/2024 anh Bùi Nhật M lên Công an xã L làm việc và giao nộp:

- 01 chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max màu đen đã qua sử dụng.

Ngày 08/4/2024 Nguyễn Vinh Q1 đến Công an xã L, huyện T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Số tiền bán được Q1 đã ăn tiêu cá nhân hết. Lời khai của Q1 phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập được.

Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải Nguyễn Vinh Q1, Q1 đã chỉ được vị trí lấy chiếc điện thoại của anh Tạ Trung T trước cổng nhà 68 thuộc khu tái định cư thôn P, xã L, vị trí đưa chiếc điện thoại cho cháu Phạm Gia B1 tại khu vực trong bãi đất khu tái định cư, trên đường giáp với ngã tư thuộc thôn P, xã L, huyện T, Hà Nội;

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho anh Tạ Trung T chỉ được vị trí gặp Q1 ở đình thôn P; vị trí Q1 lấy chiếc điện thoại trước cổng nhà 68 thuộc khu tái định cư thôn P, xã L, huyện T, Hà Nội;

Ngày 09/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra – công an huyện T ra yêu cầu định giá số 1886/YC-ĐTHS đối với chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max 64Gb.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND huyện T kết luận: 01 điện thoại di động Iphone Xs Max 64Gb, màu đen đã qua sử dụng có giá trị: 5.000.000 đồng.

Đối với anh Phạm Chánh T1, anh Phạm Văn T2, anh Bùi Nhật M khai khi mua bán chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max 64Gb, các anh không biết là tài sản do phạm tội mà có, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T không xử lý đối với anh T1, T2 và M.

Về dân sự:

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max 64Gb, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Tạ Trung T nên ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện T đã trao trả tài sản cho anh Tạ Trung T, anh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Anh Bùi Nhật M yêu cầu anh Phạm Văn T2 phải bồi thường số tiền 3.700.000 đồng là tiền anh M mua chiếc điện thoại của anh T2;

Anh Phạm Văn T2 yêu cầu Nguyễn Vinh Q1 phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng là số tiền Q1 bán chiếc điện thoại cho anh T2.

Tại bản cáo trạng số 118/CT-VKS-TT ngày 28 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Vinh Q1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Vinh Q1 từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về dân sự: Anh Tạ Trung T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác. Đề nghị HĐXX không xem xét.

Đề nghị Toà án buộc anh Phạm Văn T2 phải trả lại số tiền 3.700.000 đồng cho anh Bùi Nhật M.

Buộc bị cáo Nguyễn Vinh Q1 phải trả lại số tiền 2.000.000 đồng cho anh Phạm Văn T2.

Về án phí: Bị cáo, anh Phạm Văn T2 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Vinh Q1 giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/3/2024, tại trước cổng số nhà F thôn P, xã L, huyện T, Hà Nội Nguyễn Vinh Q1 dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max 64Gb, màu đen đã qua sử dụng có giá trị: 5.000.000 đồng của anh Tạ Trung T.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Vinh Q1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.

[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang cho nhân dân. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý và động cơ vụ lợi cá nhân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo ra đầu thú và tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6]. Về vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max 64Gb, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Tạ Trung T nên ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện T đã trao trả tài sản cho anh Tạ Trung T. Toà không xét.

[7]. Về dân sự: Anh Tạ Trung T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác. Tòa không xét.

Anh Bùi Nhật M yêu cầu anh Phạm Văn T2 phải bồi thường số tiền 3.700.000 đồng là tiền anh M mua chiếc điện thoại của anh T2 là có căn cứ để chấp nhận.

Anh Phạm Văn T2 yêu cầu Nguyễn Vinh Q1 phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng là số tiền Q1 bán chiếc điện thoại cho anh T2, bị cáo chưa trả tiền cho anh T2 nên việc anh T2 yêu cầu bị cáo trả số tiền này là có căn cứ, cần chấp nhận.

[8]. Về các vấn đề khác:

Đối với anh Phạm Chánh T1, anh Phạm Văn T2, anh Bùi Nhật M khai khi mua bán chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max 64Gb, các anh không biết là tài sản do phạm tội mà có, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T không xử lý đối với anh T1, T2 và M. Toà không xét.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Anh Phạm Văn T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Nguyễn Vinh Q1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vinh Q1 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.

[2]. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Vinh Q1 phải trả anh Phạm Văn T2 số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Buộc anh Phạm Văn T2 phải trả anh Bùi Nhật M 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng)

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sựtrừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[3]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Vinh Q1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Phạm Văn T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi họ cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Lê Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HSST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 125/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/3/2024, tại trước cổng số nhà 68 thôn Phương Nhị, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội Nguyễn Vinh Quang dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max 64Gb, màu đen đã qua sử dụng có giá trị: 5.000.000 đồng của anh Tạ Trung Thành.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger