Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HS-PT

Ngày: 22 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 144/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thị Thu N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 100/2024/HS-ST ngày 25-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Thị Thu N, sinh năm: 1973 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú: Số F, L, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú và nơi ở hiện nay: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình H (Đã chết) và bà Hoàng Thị L; chồng Nguyễn Văn T (Đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2006/HSST ngày 11-4-2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 (Chín) tháng tù cho nhưng hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị hại Phạm Thị L1 không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00, ngày 27-11-2023, bị cáo Lê Thị Thu N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen BKS: 49D1 - 524.21 đi từ ngã ba cửa rừng thuộc xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đến chợ Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để mua hàng. Khi đến nơi thì bị cáo N đi vào quầy tạp hóa nằm trên đường N, bên cạnh quầy bán gà, vịt của chị Phạm Thị L1 để mua hai thùng mắm nêm. Sau khi mua hàng xong thì bị cáo N nhìn thấy trên bàn bán hàng của cửa hàng chị L1 có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, màu đen có ốp lưng màu hồng nhạt không có ai trông coi. Lúc này, bị cáo N quan sát không có ai chú ý nên đã đi đến lấy trộm chiếc điện thoại này bỏ vào gói đựng đồ rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà cất giấu. Sau đó chị L1 phát hiện chiếc điện thoại di động của mình đã bị mất nên đã nhờ người dân xung quanh đi kiểm tra camera thì phát hiện bị cáo N là người đã lấy chiếc điện thoại của mình nên đã đến trình báo cơ quan công an. Quá trình làm việc bị cáo N đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân và tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại đã chiếm đoạt của chị L1.

Vật chứng vụ án thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, màu đen đã qua sử dụng.

Tại Kết luận 141/KLĐG ngày 11-12-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen đã qua sử dụng có giá trị là 2.574.000 đồng.

Ngày 17-5-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L ra như quyết định xử lý vật chứng số 1266/QĐ-ĐTTH trả lại với 01 điện thoại di động nhân hiệu OPPO A57, cho bị hại chị Phạm Thị L1.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Thị L1 đã nhận được tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 28-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố bị cáo Lê Thị Thu N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 100/2024/HS-ST ngày 25-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Lê Thị Thu N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08-7-2024, bị cáo Lê Thị Thu N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, thừa nhận hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đã đề cập, đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về thủ tục kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[3] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Thu N khai và thừa nhận: Khoảng 10 giờ ngày 27-11-2023, tại tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, lợi dụng sở hở của chủ sở hữu là chị Phạm Thị L1, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 của chị Phạm Thị L1, theo kết luận định giá có trị giá định giá có giá trị là 2.574.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng tội danh.

[4] Về hình phạt và kháng cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội tuy ít nghiêm trọng nhưng trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác; phát sinh nghi ngờ của chủ sở hữu với mọi người xung quanh, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhân thân năm 2006 từng bị Tòa án xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản”, mặc dù tính đến khi thực hiện hành vi phạm tội lần này đã lâu nhưng phần nào đó cho thấy bị cáo chưa thực sự ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội của mình trước đây, có thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo; đánh giá về nhân thân, đồng thời xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, hoàn cảnh khó khăn, con bị bệnh tật quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đồng thời xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù, cách ly khỏi cộng đồng là có căn cứ, đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, trong khi các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng đầy đủ như đã phân tích. Việc cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo ngoài cộng đồng có thể ảnh hưởng xấu đến dư luận, không nghiêm đối với công tác đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này tại địa phương bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng nêu ra tại phiên tòa phúc thẩm.

[5] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Thu N, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.

Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt giam thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thị Thu N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND huyện Lâm Hà (02);
  • - VKSND huyện Lâm Hà (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Lâm Hà (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Lâm Hà (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Hồ sơ THAHS (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 125/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger