Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HS-ST

Ngày 27-5-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Nam Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Nga.
  2. Ông Vũ Huy Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đức Nhã - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng L; Sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long; Nơi ĐKHKTT: Ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long A; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Nguyễn Văn E và bà Cao Văn Bé T; có vợ tên Bùi Thị Mỹ T1, sinh năm: 1993; có 01 người con, sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Cao Quốc S; Sinh năm 2001; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long; Nơi ĐKHKTT: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: A G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Tài xế/làm thuê; Con ông Cao Văn Bé C và bà Nguyễn Thị N; có vợ tên Đỗ Phạm Quỳnh N1, sinh năm: 2000; bị cáo có 01 người con, sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

1

Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/8/2023, tạm giam từ ngày 19/8/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Minh H; Sinh năm 2000; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Tỉnh Kiên Giang; Nơi ĐKHKTT: Ấp K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: 1 N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: làm thuê; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T2; có vợ tên Nguyễn Thị Kim K, sinh năm: 1991; 01 người con sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/8/2023, tạm giam từ ngày 19/8/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng L: Ông Lê Thanh S1, sinh năm: 1973 – Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh N.

* Bị hại: Ông Nguyễn Minh K1; sinh năm 1985 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)

Địa chỉ: C, Tổ E, Ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Đỗ Văn N2, sinh năm: 1968. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
  • - Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1979. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: C H, khu phố C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc Sơn T4, sinh năm: 1994 (có mặt)

Địa chỉ: E Đ, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng L, Cao Quốc S, Nguyễn Minh H và Nguyễn Ngọc Sơn T4 làm chung tại bãi xe Phúc An K2 tại địa chỉ D Tổ H, Khu phố D, thị trấn T, huyện B. Trong đó, L là anh họ của S và làm quản lý nhóm công nhân trên tại bãi xe.

Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 08/8/2023, L điều khiển xe mô tô biển số 67L6-5018 đến bãi xe Phúc A để làm việc. Liêm lưu thông trên đường dẫn cao tốc, khi đến ngã tư đường dẫn cao tốc Bình Thuận - Chợ Đ với đường T thì đèn giao thông màu đỏ nhưng L không dừng xe và điều khiển xe mô tô vượt đèn đỏ, rẽ phải vào đường T. Cùng lúc này, chị Võ Thị L1 điều khiển xe mô tô biển số 77G1-812.71 chở anh Nguyễn Minh K1 đang đứng bên lề phải, trước trạm dừng chân Vạn Thịnh địa chỉ C, Khu phố C, thị trấn T, huyện B thấy tín hiệu đèn xanh

2

nên điều khiển xe mô tô lưu thông qua giao lộ để vào khu hành chính huyện B thì bị xe của L suýt va chạm vào xe của chị L1. Thấy L vượt đèn đỏ suýt va chạm với xe của chị L1 gây nguy hiểm nên anh K1 bước xuống hỏi “Mày chạy xe kiểu gì vậy”. Lúc này, L dừng xe lại và xảy ra cự cãi, thách thức qua lại với anh K1. Thấy vậy nên chị L1 điều khiển xe sang đường T và đứng đợi anh K1.

Liêm tức giận nên gọi điện thoại cho S đang làm việc tại bãi xe Phúc A ra để giải quyết mâu thuẫn với anh K1. Sau khi S nghe điện thoại của L xong liền thông báo cho H và T4 biết sự việc L đụng chuyện ngoài ngã tư. Lúc này, S đi vào bãi xe lấy 01 dao bằng kim loại dài 46cm và cùng H và T4 đi bộ ra ngã tư (T4 đi trước, phía sau là S và H đi cuối cùng). Khi ra đến ngã tư, T4 thấy L đang ngồi trên xe nên hỏi “có chuyện gì” thì L dùng tay phải chỉ về phía anh K1 cho T4 cùng S và H đi đến chỗ anh K1. Trà hỏi anh K1 “có chuyện gì” thì anh K1 trả lời “nhà anh ở gần đây nên không có chuyện gì hết”. Ngay lúc này, S đi đến áp sát vào người anh K1 thì anh K1 dùng tay đẩy ra, S liền rút con dao ra khỏi vỏ và cầm trên tay phải chém trúng tay phải anh K1. Cùng lúc, H dùng tay không đánh vào đầu, người của anh K1, T4 thấy vậy liền can ngăn S và H không cho đánh anh K1. Anh K1 bỏ chạy ra ngã tư đường thì H đuổi theo dùng tay đánh vào người anh K1 nhiều cái, S đuổi theo cầm dao tiếp tục chém vào má phải và lưng anh K1 gây thương tích. Anh K1 bỏ chạy và được chị L1 đưa vào Bệnh viện huyện B cấp cứu. Sinh, H, T4, L đi về bãi xe Phúc A làm việc. Nhận được tin báo, Công an thị trấn T tiếp nhận sự việc, lập hồ sơ truy xét đưa L, S, H và T4 về trụ sở làm việc, lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Nguyễn Hoàng L, Cao Quốc S, Nguyễn Minh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với camera thu thập được tại hiện trường, lời khai của người bị hại, người chứng kiến, người liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Bản kết luận giám định số 713/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 06/10/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố H kết luận đối với thương tích của anh Nguyễn Minh K1 như sau:

“1. Các kết quả chính:

  • - Đa vết thương phần mềm đã được điều trị hiện còn:
  • + Một sẹo vùng má phải kích thước 4,8x0,1cm.
  • Có tỉ lệ: 03% (Ba phần trăm).
  • + Một sẹo vùng lưng phải cạnh cột sống kích thước 12x0,2cm.
  • Có tỉ lệ: 02% (Hai phần trăm).
  • + Một sẹo vùng thắt lưng trái kích thước 6,3x(0,1-0,7)cm.
  • Có tỉ lệ: 02% (Hai phần trăm).

3

Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc nhọn tác động gây ra.

- Vết thương mặt mu bàn tay trái gây đứt da, đứt gân duỗi ngón II đến IV, gãy xương tháp, cả, móc đã được điều trị phẫu thuật kết hợp xương, khâu vết thương hiện còn:

  • + Một sẹo kích thước 12x(0,1-0,4)cm.
  • + Hình ảnh gãy xương có dụng cụ kết hợp xương trên phim XQuang.
  • + Hạn chế vận động cổ tay, không cứng khớp.

Có tỉ lệ: 09% (Chín phần trăm).

Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của bộ Y quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giảm pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh K1 tại thời điểm giám định là: 15% (Mười lăm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

  • - Tất cả các thương tích trên không nguy hiểm đến tính mạng.
  • - Con dao như hình ảnh Cơ quan điều tra cung cấp có thể gây ra được tất cả các thương tích trên”.

* Vật chứng tạm giữ của bị cáo L:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng cùng sim, sử dụng liên lạc gọi Sinh.
  • - 01 xe mô tô biển số 67L6-5018.

* Vật chứng tạm giữ của bị cáo S:

  • - 01 con dao tự chế bằng kim loại dài 46cm, cán dao bằng gỗ và vỏ dao bằng nhựa.
  • - 01 điện thoại di động Iphone XR cùng sim.
  • - 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ adidas và 01 quần Jean ngắn màu xanh nhạt.

* Vật chứng tạm giữ của bị cáo H:

  • - áo thun ngắn tay màu vàng cam và 01 quần thun ngắn màu đen trên ống quần có chữ Nike.

Tất cả các vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã ra Quyết định chuyển vật chứng đề nghị Cơ quan điều tra chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tạm giữ chờ xử lý.

* Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng L đã bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng, bị cáo Cao Quốc S đã bồi thường cho bị hại số tiền

4

100.000.000 đồng. Bị hại Nguyễn Minh K1 đã làm đơn bãi nại cho các bị cáo L, S và không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số: 139/CT-VKS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng L, Cao Quốc S và Nguyễn Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Cao Quốc Sinh từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng:

  • - Tịch thu và tiêu huỷ: 01 con dao tự chế bằng kim loại dài 46cm, cán dao bằng gỗ và vỏ dao bằng nhựa; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ adidas và 01 quần Jean ngắn màu xanh nhạt; 01 áo thun ngắn tay màu vàng cam và 01 quần thun ngắn màu đen trên ống quần có chữ Nike.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng cùng sim; 01 điện thoại di động Iphone XR cùng sim.
  • - 01 xe mô tô biển số 67L6-5018, qua xác minh do ông Đỗ Văn N2 đăng ký sở hữu, sau đó bán lại cho một người không rõ lai lịch. Đề nghị tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 (sáu) tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô biển số 67L6-5018. Trong thời hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho người đang quản lý là bị cáo L.

Về dân sự:

ghi nhận bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

Luật sư Lê Thanh S1 bào chữa cho bị cáo L trình bày: mức án đề nghị của Viện kiểm sát là quá nặng. Sự việc xảy ra bất ngờ, bị cáo L không nghĩ đến mức độ bị cáo S gây ra cho bị hại, hậu quả nằm ngoài suy nghĩ của bị cáo L. Bị cáo L đã thực hiện việc bồi thường đầy đủ, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, hiện đang nuôi con nhỏ, sự việc xảy ra bị cáo L đứng cách xa bị cáo S 6, 7 mét nên không kịp can ngăn Sinh, H. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

5

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng L, Cao Quốc S, Nguyễn Minh H khai nhận hành vi như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét: ông Nguyễn Ngọc Sơn T4 là người chứng kiến toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo, tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xác định ông T4 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chưa chính xác, Hội đồng xét xử xác định lại ông Nguyễn Ngọc Sơn T4 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người làm chứng.

Xét: bị hại ông Nguyễn Minh K1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; ông Đỗ Văn N2, ông Nguyễn Văn T3 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và sự vắng mặt của các ông không gây trở ngại, ảnh hưởng cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo trình tự, thủ tục chung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Xét thấy lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở xác định: vào khoảng 22 giờ ngày 08/8/2023 tại trước địa chỉ C Khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh các bị cáo Nguyễn Hoàng L, Cao Quốc S và Nguyễn Minh H đã thực hiện hành vi sử dụng hung khí (dao kim loại dài 46 cm) gây thương tích cho bị hại Nguyễn Minh K1. Theo kết quả giám định pháp y về thương tích thì anh Nguyễn Minh K1 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15%. Trong đó, Nguyễn Hoàng L là người gọi điện cho Cao Quốc S ra giải quyết mâu thuẫn với bị hại, Cao Quốc S là người trực tiếp sử dụng dao kim loại (là hung khí nguy hiểm) chém, Nguyễn Minh H dùng tay không đánh gây thương tích cho bị hại, các bị cáo cùng gây thương tích nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung về tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại; giữa các bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì với nhau từ trước, nhưng chỉ vì tranh luận tình huống giao thông có thể gây mất an toàn giữa bị cáo L và bị hại K1 mà bị cáo L điện thoại cho S, H ra dùng “hung khí nguy hiểm” gây thương tích cho bị hại, hành vi của các bị cáo thể hiện là “có tính chất côn đồ” đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý

6

gây thương tích”, được quy định tại điểm a, điểm i Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là tình tiết định khung tăng nặng đối với các bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố Nguyễn Hoàng L, Cao Quốc S và Nguyễn Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp cố ý phạm tội, vừa xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác, vừa ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội, gây hoang mang lo sợ về sự an toàn sức khỏe, tính mạng của nhân dân trong khu vực. Khi thực hiện hành vi tội phạm các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì bản tính xem thường pháp luật và tính mạng, sức khỏe của người khác mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ tính chất và mức độ hành vi của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án thật nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất đơn giản, không có sự bàn bạc thống nhất với nhau từ trước, nên Hội đồng xét xử xem xét vai trò cũng như tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo để cân nhắc mức hình phạt. Cụ thể như sau:

[4.1] Bị cáo Cao Quốc S là người dùng dao trực tiếp chém bị hại, mặc dù bị hại đã bỏ chạy ra giữa đường nhưng bị cáo vẫn tiếp tục rượt theo chém gây thương tích cho bị hại; Bị cáo Nguyễn Hoàng L là người điện thoại cho bị cáo Cao Quốc S ra giải quyết mâu thuẫn, chứng kiến toàn bộ sự việc nhưng không có bất kỳ hành động, lời nói nào can ngăn hành vi gây thương tích của bị cáo S, H; xét hành vi của cả hai bị cáo là rất nguy hiểm nên sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo H.

[4.2] Bị cáo Nguyễn Minh H dùng tay gây thương tích cho bị hại mặc dù bị hại đã bỏ chạy ra giữa đường nhưng bị cáo vẫn tiếp tục rượt theo dùng tay gây thương tích cho bị hại nên cũng sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc nhưng nhẹ hơn so với bị cáo L và S.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Gia đình bị cáo L, S đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu

7

quả; bị hại có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo L và bị cáo S nên bị cáo L, S được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 con dao tự chế bằng kim loại dài 46cm, cán dao bằng gỗ và vỏ dao bằng nhựa là phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
  • - 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ adidas và 01 quần Jean ngắn màu xanh nhạt, là trang phục Sinh mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.
  • - 01 áo thun ngắn tay màu vàng cam và 01 quần thun ngắn màu đen trên ống quần có chữ Nike, là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng cùng sim của bị cáo L sử dụng liên lạc gọi Sinh nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động Iphone XR cùng sim, S dùng liên lạc với bị cáo L nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • - 01 xe mô tô biển số 67L6-5018 thu giữ của L, do L mua lại của anh Nguyễn Văn T3, anh T3 mua lại của một người không rõ lai lịch và sau đó bán lại cho L. Qua xác minh xe này do ông Đỗ Văn N2 đăng ký sở hữu, sau đó bán lại cho một người không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai liên hệ. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 (sáu) tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô biển số 67L6-5018. Trong thời hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho người đang quản lý là bị cáo L. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với chiếc xe này thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Đối với Nguyễn Ngọc Sơn T4 là người có hành vi đi ra gặp bị hại để giải quyết mâu thuẫn. Tuy nhiên, T4 không tham gia đánh anh K1; đồng thời, T4 có hành vi ngăn cản S và H đánh, chém anh K1 nên hành vi của T4 không đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không xử lý là có căn cứ.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc

8

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với các bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án, không chấp nhận các ý kiến tranh luận của luật sư bào chữa cho bị cáo L và chấp nhận đề nghị của các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024.

2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Cao Quốc S 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2023.

3. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2023.

4. Về vật chứng vụ án: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu và tiêu huỷ: 01 con dao tự chế bằng kim loại dài 46cm, cán dao bằng gỗ và vỏ dao bằng nhựa; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ adidas và 01 quần Jean ngắn màu xanh nhạt; 01 áo thun ngắn tay màu vàng cam và 01 quần thun ngắn màu đen trên ống quần có chữ Nike.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng cùng sim; 01 điện thoại di động Iphone XR cùng sim.
  • - Tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 (sáu) tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô biển số 67L6-5018. Trong thời hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho người đang quản lý là bị cáo L. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với chiếc xe này thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

9

(Các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận tang tài vật ngày 10/4/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).

5. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Bình Chánh;
  • - Công an H. Bình Chánh;
  • - Chi cục thi hành án dân sự H. Bình Chánh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA TP.HCM;
  • - Sở tư pháp TP.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, Đương sự;
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Tạ Nam Phương

2AAKKBO*beacac+

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 125/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Liêm 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger