|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2024/HS-ST Ngày 24-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Hoàn;
- Bà Hoàng Lệ Chi.
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tố Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXX-HS ngày 12/4/2024 đối với các bị cáo:
- Đồng Văn H, sinh năm 1988, tại tỉnh Bắc Giang; thường trú: Số G P, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đồng Văn H1, sinh năm 1960, đã chết và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966; bị cáo có 02 chị, em, lớn sinh năm 1987 và nhỏ sinh năm 1991; bị cáo có vợ tên Cao Thị X, sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2013 và nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16 tháng 12 năm 2023 cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Nguyễn Văn L, sinh năm 1983, tại tỉnh Thanh Hoá; thường trú: Số B đường N, KDC T, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1954 và bà Hứa Thị C, sinh năm 1956; bị cáo có 03 chị, em. Lớn nhất sinh năm 1982 và nhỏ nhất sinh năm 1997; bị cáo có vợ tên Lê Thị T, sinh năm 1990 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16 tháng 12 năm 2023 cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Nguyễn Duy T1, sinh năm 1993, tại tỉnh Đắk Lắk; thường trú: Số E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Bá D, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1960; bị cáo có 02 anh, em, lớn sinh năm 1991 và nhỏ sinh năm 1995; bị cáo có vợ tên Trương Thị Viết B, sinh năm 1993 và có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/12/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Nguyễn Hữu H4, sinh năm 1979, tại tỉnh Quảng Ngãi; thường trú: Xóm F, Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở: Số D đường D, KDC T, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn K, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1953; bị cáo có 02 chị, lớn sinh năm 1972 và nhỏ sinh năm 1973; bị cáo có vợ tên Trần Thị Diễm D1, sinh năm 1985 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16 tháng 12 năm 2023 cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Đinh Văn N1, sinh năm 1982, tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Số A đường N, KDC T, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đinh Văn B1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1958; bị cáo có 01 anh, sinh năm 1980; bị cáo có vợ Phạm Thị Khánh L1, sinh năm 1984 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16 tháng 12 năm 2023 cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Người chứng kiến: Hồ Hữu S, sinh năm 1992;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đồng Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu H4, Nguyễn Duy T1, Đinh Văn N1 là bạn bè, hàng xóm quen biết với nhau. N1 là Giám đốc Công ty TNHH T3, địa chỉ: Số C đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 16/12/2023, trong lúc H, L, H4, T1 ngồi uống nước phía trước nhà của N1, đồng thời là Công ty TNHH T3 thì H rủ cả nhóm chơi đánh bài “T2 lên M” thắng, thua bằng tiền, L, H4, T1 đồng ý. Cùng lúc, H hỏi N1 cho mượn sảnh Công ty T3 để ngồi chơi bài, N1 đồng ý và cả nhóm đi vào Công ty T3 để cùng chơi đánh bài.
Hình thức, cách thức đánh bạc như sau: Các bị cáo sử dụng bộ bài Tây (loại 52 lá) chia thành 04 tụ, mỗi tụ 13 lá. Người được đánh đầu tiên được đánh các quân bài tuỳ ý trên bộ bài của mình (quân bài lẻ, đôi, sảnh,...), người đánh liền kề có các quân bài tương ưng lớn hơn thì sẽ được đánh ra để dành lượt hoặc bỏ lượt cho người liền kề tiếp theo đánh, người liền kề tiếp theo có thể đánh hoặc bỏ lượt tương tự như với người đánh thứ hai. Cứ lần lượt như vậy cho đến khi ai hết bài trên tay trước tiên sẽ thắng (về nhất), những người hết bài lần lượt tiếp theo là về nhì, về ba, về cuối cùng. Người về nhất sẽ ăn tiền người về cuối cùng số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), người về nhì sẽ ăn tiền người về ba số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Đối với bộ bài Tây 52 lá có sẵn tại sảnh phòng khách của Công ty (không rõ người để bộ bài). Các bị cáo đánh bạc đến 10 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Đ Công an thành phố D phát hiện, bắt quả tang.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận cụ thể như sau:
- + Bị cáo Đồng Văn H mang theo số tiền 5.100.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Quá trình chơi, H thua 1.300.000 đồng, khi bị bắt quả tang, H bị thu giữ số tiền 500.000 đồng tại vị trí ngồi, thu giữ trong túi quần số tiền 3.300.000 đồng.
- + Bị cáo Nguyễn Văn L mang theo số tiền 1.000.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Quá trình chơi, L thắng số tiền 100.000 đồng, khi bị bắt quả tang, L bị thu giữ số tiền 1.100.000 đồng tại vị trí ngồi.
- + Bị cáo Nguyễn Hữu H4 mang theo số tiền 700.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Quá trình chơi, H4 thắng được số tiền 1.600.000 đồng, khi bị bắt quả tang, H4 bị thu giữ số tiền 1.600.000 đồng tại vị trí ngồi, thu giữ trong túi quần số tiền 700.000 đồng.
- + Bị cáo Nguyễn Duy T1 mang theo số tiền 700.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Quá trình chơi, T1 thua số tiền 400.000 đồng, khi bị bắt quả tang, T1 bị thu giữ số tiền 300.000 đồng tại vị trí ngồi.
- + Bị cáo Đinh Văn N1 không tham gia đánh bạc nhưng N1 đồng ý cho Đồng Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu H4, Nguyễn Duy T1 vào trong sảnh của Công ty T3 (do N1 làm giám đốc và cũng là nhà của N1) ngồi đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền và N1 ngồi xem các bị cáo đánh bạc.
Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Tang vật thu giữ trong vụ án gồm: Số tiền trên chiếu bạc 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng); Số tiền trong túi của các bị cáo là 4.300.000 đồng (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng; 01 bộ bài Tây (loại 52 lá) đã qua sử dụng.
Tại cáo trạng số 138/CT – VKS – DA ngày 01 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Đồng Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu H4, Nguyễn Duy T1 và Đinh Văn N1 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đồng Văn H, Đinh Văn N1 mỗi bị cáo số tiền từ 35.000.000đồng đến 40.000.000đồng, các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu H4 và Nguyễn Duy T1 mỗi bị cáo số tiền từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bộ bài Tây (loại 52 lá) đã qua sử dụng thu giữ trong vụ án, do liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ trong vụ án, là số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc trái phép thắng, thua bằng tiền nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 16/12/2023, tại Công ty TNHH T3 ở địa chỉ số C đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Đồng Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu H4 và Nguyễn Duy T1, đã cùng nhau chơi bài T2 lên M để phân thắng thua bằng tiền, số tiền các bị cáo sử dụng để chơi bài là 7.500.000 đồng, đến 10 giờ 50 phút, trong khi các bị cáo đang chơi bài thì bị bắt quả tang, bị cáo Đinh Văn N1 không trực tiếp tham gia chơi bài nhưng cho mượn địa điểm là sảnh Công ty T3 do mình làm giám đốc để các bị cáo khác chơi bài. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu,.... Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 138/CT – VKS – DA ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tham lam tư lợi các bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.
[4] Vụ án này có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, cấu kết chặt chẽ. Trong vụ án này bị cáo H là người rủ các bị cáo khác tham gia đánh bạc, là người mượn địa điểm và đưa ra quy định mức thắng thua bằng tiền, các bị cáo khác là những người tham gia đánh bạc, bị cáo N1 không tham gia đánh bạc nhưng cho mượn sảnh của công ty. Do đó, khi cá thể hóa hình phạt bị cáo H phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[7] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, có công việc ổn định.
[8] Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
+ Xét các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và tại phiên tòa các bị cáo thực sự ăn năn, hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo. Do áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nên cần hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 301, 302, 303, 304 và 305 ngày 25 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo Đồng Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu H4, Nguyễn Duy T1 và bị cáo Đinh Văn N1.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 7.500.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc nên Hội đồng xét xử sẽ tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- Đối với bộ bài tây 52 lá các bị cáo sử dụng đánh bạc không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
[10] Mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo Đồng Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu H4, Nguyễn Duy T1 là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận, mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo Đinh Văn N1 là nghiêm khắc vì bị cáo N1 chỉ cho mượn địa điểm để đánh bạc do có mối quan hệ quen biết với các bị cáo khác, bị cáo không tham gia đánh bạc, do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt nhẹ hơn mức đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo Đinh Văn N1.
[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Đồng Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu H4, Nguyễn Duy T1 và Đinh Văn N1 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Đồng Văn H số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1 số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H5 số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Đinh Văn N1 số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 301, 302, 303, 304, 305 ngày 25/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đối với các bị cáo Đồng Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Hữu H5 và Đinh Văn N1.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo Lệnh thanh toán lập ngày 01/4/2024 của Ngân hàng N2 Chi nhánh thành phố D, S.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/4/2024)
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Đồng Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu H4, Nguyễn Duy T1 và Đinh Văn N1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoa |
7
Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về đánh bạc (gambling)
- Số bản án: 125/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Gambling)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng Văn H cùng đồng phạm bị truy tố về tội Đánh bạc
