|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2024/HS-ST Ngày: 13-12-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/Ông Lý Thành Trung
- 2/Ông Khưu Hán Quang
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Huy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 12 năm 204 tại Phòng xử trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 204 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 204 đối với các bị cáo:
1/Nguyễn Hiền Trí; sinh năm 19 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: I N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không quốc tịch: Việt Nam con ông Nguyễn Cao D (chết) và bà Nguyễn Thị Thanh T (chết); Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con;
Tiền án: Ngày 07/5/2023, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Công an Q2 bắt. Ngày 19/9/2023, Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 01 năm tù theo Bản án số 59/2023/HSST ngày 19/9/2023. Chấp hành xong án phạt tù ngày 26/4/2024.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 03/12/2010, Ulập hồ sơ đưa Nguyễn HT1 vào trường giáo dưỡng 24 tháng theo Quyết định số 6391 của U Đến tháng 12/2012, bị can Nguyễn HT1 chấp hành xong.
- - Ngày 15/11/2022, Công an Q2 xử phạt hành chính N2 hành vi: “Trộm cắp tài sản”, theo điểm a khoản 1 điều 15 Nghị định số 144/NĐ-CP của Chính Phủ, ngày 31 tháng 12 năm 2021, của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình với số tiền 2.500.000 đồng.
Bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/Lê Văn Quỳnh (Bé); sinh năm 1974, tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai Chỗ ở hiện nay: A27/19 ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ văn hoá (học vấn): mù chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam con ông L1 Vũ Thị L; Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Lê Thị Bích P 02 người con lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1994; tiền án: tiền sự: Không.
Bị biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Chị Đỗ Ngọc G 2001, HKTT: khu phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 27/7/2024, bị cáo Nguyễn Hiền T1(sinh năm 1991) đi bộ trên đường L hướng từ đường B về đường P, Phường A, Quận A trước tiệm T5 (số G, Phường A, Quận A T1 thấy xe mô tô (biển số 61H1-629.52) của chị Đỗ Ngọc G1(sinh năm 2001, HKTT: khu phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương đang dựng trước cửa tiệm nhưng không có người trông coi, chìa khóa xe còn cắm sẵn trong ổ khóa, nên T1 nảy sinh ý định chiếm đoạt, bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, Nguyễn HT1 tiếp cận chiếc xe rồi ngồi lên yên, bật chìa khóa công tắc, đề xe nổ máy bỏ chạy về hướng đường T, Phường A, Quận A HT1 điều khiển xe đến gửi tại bãi giữ xe lô 3C thuộc chung cư P, Phường A, Quận A gửi xe, Nguyễn HT1 liên hệ với Lê Văn Q(sinh năm 1974) là thợ sửa xe gắn máy tại góc đường N - L, Phường A, Quận E uống cà phê và nhờ tìm người tiêu thụ. Khi Q1 ý thì N HT1 chạy xe đến góc đường N - L, Phường A, Quận E của Q lúc này là chị Lê Thị Thúy V mặt nên Nguyễn HT1 chưa nói cho Q biết xe này là do T1 vừa mới trộm cắp của người khác. Uống cà phê xong, Nguyễn HT1 điều khiển xe mô tô (biển số 61H1-629.52) về gửi lại bãi giữ xe lô 3C chung cư P, Phường A, Quận A
Đến trưa ngày 28/7/2024, T1 điều khiển xe đến gặp Q2 cho Q biết chiếc xe (biển số 61H1 - 629.52) là do T1 đã trộm cắp của người khác, nhờ Q3 người mua, để bán với giá 7.000.000 đồng. Q đồng ý và chụp hình chiếc xe lại, T1 tiếp tục điều khiển xe về gửi tại bãi giữ xe lô 3C, chung cư P, Phường A, Quận A 28/7/2024, Q4 báo cho T1 biết có người đồng ý mua xe với số tiền 5.000.000 đồng thì T1 không đồng ý bán với giá rẻ. Đến ngày 29/7/2024, Nguyễn HT1 lấy xe khỏi bãi giữ xe lô 3C, chung cư P, Phường A, Quận A đến chỗ Lê Văn Q5 sửa xe tại góc đường N - L, Phường A, Quận E, T1 gửi xe biển số 61H1 - 629.52 tại bãi giữ xe bệnh viện Đ cách điểm sửa xe của Q khoảng 10 mét, sau đó T1 đưa thẻ giữ xe, chìa khóa xe, giấy đăng ký xe cho Q6, để khi có người mua xe Q lấy xe ra cho người mua xem.
Khoảng 17 giờ ngày 29/7/2024, Nguyễn HT1 quay lại tìm gặp Q7 bị Công an P1 T1 về trụ sở để làm việc. Lê Văn Q8 thấy Cơ quan Công an tạm giữ T1 và đến thu giữ xe biển số 61H1 - 629.52 tại bãi giữ xe bệnh viện Đ, Phường A, Quận E(cách nơi Q sửa xe khoảng 10 mét) thì Q9 sợ, vứt bỏ thẻ giữ xe và giấy đăng ký xe mô tô biển số 61H1 - 629.52. Sau khi được mời làm việc, Q10 giao nộp chìa khóa xe 61H1-629.52 cho Cơ quan Công an.
Kết quả định giá số 39/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A giá trị của xe mô tô biển số 61H1-629.52 là 10.800.000 đồng (mười triệu tám trăm ngàn đồng) vào thời điểm ngày 27/7/2024.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, N3 nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên .
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) xe mô tô biển số: 61H1-629.52 màu xanh, loại xe Wave, số máy: JA39E2191925, Số khung: RLHJA392XMY074606. Cơ quan điều tra xác định đây là tài sản của chị Đỗ Ngọc G2 ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho chị Đỗ Ngọc G1
- - 01 (một) đôi dép màu đen quai màu xám là vật dụng mà Nguyễn HT1 sử dụng lúc thực hiện hành vi phạm tội và được Camera an ninh ghi nhận được. Đối với trang phục Nguyễn HT1 mặc trên người lúc thực hiện hành vi phạm tội gồm 01 áo thun ngắn tay màu đen, quần Jeans ngắn màu đen, nón kết màu đen thì T1 vứt bỏ ở đường T, Quận E không thu hồi được;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu tím, đây là điện thoại này được Nguyễn HT1 sử dụng để gọi điện, nhắn tin với L2 người tiêu thụ tài sản mà T1 đã chiếm đoạt;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A79 màu trắng, điện thoại này được L3 để chụp hình phương tiện mà T1 đã chiếm đoạt cũng như gọi điện trao đổi với Nguyễn HT1 để tìm người tiêu thụ xe.
- - 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 61H1-629.52, 01 (một) thẻ giữ xe (bãi gửi xe Đại học Y Thành phố H bỏ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ N1 G3 nhận lại xe mô tô biển số 61H1-629.52 nên không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bản cáo trạng số 139/CT-VKSQ11 ngày 13 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Đỗ H2 T2 tội danh “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và bị cáo L4 “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1, Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
- - Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, giữ quan điểm như truy tố, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo N HT1 mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn
Q1(một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (hai) năm đến 03 (ba) năm, đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:
- + Đối với 01 (một) đôi dép màu đen quai màu xám là vật dụng mà Nguyễn HT1 sử dụng lúc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A79 màu trắng, điện thoại này được L3 để chụp hình phương tiện mà T1 đã chiếm đoạt cũng như gọi điện trao đổi với Nguyễn HT1 để tìm người tiêu thụ xe nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu tím, đây là điện thoại này được Nguyễn HT1 sử dụng để gọi điện, nhắn tin với L2 người tiêu thụ tài sản mà T1 đã chiếm đoạt nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra C Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn H khai nhận hành vi “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Lê Văn Q2 nhận hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Q2 cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, tang vật thu giữ phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Hiền T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và bị cáo Lê Văn Q3 tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Hiền T3 hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị án xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, bị cáo đã thực hiện hành vi rất táo bạo, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra và bất chấp
cả sự trừng trị của pháp luật. Đối với hành vi của bị cáo Lê V1 rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng còn gây trở ngại lớn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, tạo điều kiện khuyến khích những người khác phạm tội và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm. Đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Nguyễn Hiền T1 có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tại phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Hiền T1 như tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo L5 xét xử xét thấy bị cáo có địa chỉ rõ ràng, trong thời gian tại ngoại bị cáo Q10 chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo chỉ nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, việc giao dịch mua bán giữa bị cao Q và bị cáo T1 chưa xảy ra. Đồng thời, qua đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Lê Văn Q16 xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung và phù hợp với quy định Điều 65 Bộ luật hình sự, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của P2 đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn phạt bổ sung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người bị hại vắng mặt, nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án xét thấy chị Đỗ Ngọc G3 lại xe mô tô biển số 61H1-629.52 bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo Nguyễn HT1 bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử xét thấy không có gì phải giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 (một) đôi dép màu đen quai màu xám là vật dụng mà Nguyễn HT1 sử dụng lúc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A79 màu trắng, điện thoại này được L3 để chụp hình phương tiện mà T1 đã chiếm đoạt cũng như gọi điện trao đổi với Nguyễn HT1 để tìm người tiêu thụ xe nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu tím, đây là điện thoại này được
Nguyễn HT1 sử dụng để gọi điện, nhắn tin với L2 người tiêu thụ tài sản mà T1 đã chiếm đoạt nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn HT1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Lê Văn Q (Bé) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Hiền T4(một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024.
Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Lê Văn Q(Bé) 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Văn Q (Bé) cho Ủy ban nhân dân xã B giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi địa chỉ thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- + Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A79 màu trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu tím .
- + Tịch thu và tiêu hủy: Đối với 01 (một) đôi dép màu đen quai màu xám.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1194A/LNK-ĐTTH ngày 09/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo mỗi người phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Đã giải thích chế định án treo)
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Tô Đông Đức |
7
Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 125/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn Hiền Trí 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024. Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Lê Văn Quỳnh (Bé) 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Văn Quỳnh (Bé) cho Ủy ban nhân dân xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong trường hợp bị cáo thay đổi địa chỉ thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
