Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HS-ST.

Ngày: 21-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Trọng Di

+ Ông Phạm Hồng Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Đức T, Giới tính: Nam, sinh ngày 11-7-1992; Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Vũ Đức T1, sinh năm:1971; Mẹ: Hồ Thị H, sinh năm: 1970; A, chị, em: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2002; Vợ/con: Chưa có.

Tiền án: Không

Tiền sự: tại Quyết định số 32/2021/QĐ-TA ngày 5-3-2021 bị TAND huyện Tuy Phong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy", thời hạn 12 tháng. T thi hành Quyết định trên vào ngày 6-7-2022.

Bị cáo bị bắt ngày 26-9-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, vào khoảng 00 giờ ngày 10-9-2024 Vũ Đức T đến khu vực bờ kè thuộc khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận mua của một thanh niên không rõ họ tên, nhân thân lai lịch 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) được 01 (một) gói ma túy.

Sau đó, T mang ma túy về nhà cất giấu và sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ 20 phút ngày 14/9/2024, khi T đang nằm ngủ tại nhà thuộc khu phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì bị Công an thị trấn L đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang T đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ phía trên ba lô tại vị trí T đang nằm 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trên bộ dụng cụ có gắn đoạn ống thủy tinh dài khoảng 11cm được uốn cong và thổi phồng 01 đầu, bên trong đầu thổi phồng có chất rắn màu nâu vàng, T khai nhận là ma túy đá của T sử dụng còn lại. Thu giữ dưới nền nhà tại vị trí cách T đang nằm 0,5 mét có 01 vỏ thuốc lá nhãn hiệu YETT, bên trong có 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (02 x 02)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen. Sau đó Công an thị trấn L tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 1168/KL-KTHS ngày 21/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,0201 gam là Methamphetamine, Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,0891 gam là Methamphetamine. Tổng khối lượng Methamphetamine mà Vũ Đức T tàng trữ để sử dụng là 0,1092 gam.

Về các tang, vật chứng của vụ án đã thu giữ: Cơ quan điều tra đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong: 01 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 11cm, được uốn cong và thổi phồng một đầu: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1168/1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu YETT; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, kích thước khoảng (02 x 02)cm, đã cắt lấy mẫu và 0,0326 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1168/2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trên không có đoạn ống thủy tinh: Được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen đã làm rõ, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân bị cáo Vũ Đức T. Bị cáo T sử dụng vào mục đích liên hệ trong sinh hoạt hằng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bị cáo Vũ Đức T.

Tại Bản Cáo trạng số 145/CT-VKSTP-HS, ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Vũ Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

+ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Vũ Đức T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 11cm, được uốn cong và thổi phồng một đầu: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1168/1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu YETT; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, kích thước khoảng (02 x 02)cm, đã cắt lấy mẫu và 0,0326 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1168/2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trên không có đoạn ống thủy tinh được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02.

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Vũ Đức T, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

- Bị cáo Vũ Đức T thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan. Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đức T không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và biên bản phạm tội quả tang, đã làm rõ: khoảng 10 giờ 20 phút ngày 14-9-2024, tại khu phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận Công an thị trấn L đã kiểm tra phát hiện, bắt quả tang T đang tàng trữ trái phép chất ma túy vì mục đích sử dụng. Thu giữ phía trên ba lô tại vị trí T đang nằm 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trên bộ dụng cụ có gắn đoạn ống thủy tinh dài khoảng 11cm được uốn cong và thổi phồng 01 đầu, bên trong đầu thổi phồng có chất rắn màu nâu vàng. T khai nhận là ma túy đá của T sử dụng còn lại, dưới nền nhà tại vị trí cách T đang nằm 0,5 mét có 01 vỏ thuốc lá nhãn hiệu YETT, bên trong có 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (02 x 02)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen.

Tại Kết luận giám định số 1168/KL-KTHS ngày 21-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,0201 gam là Methamphetamine, Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,0891 gam là Methamphetamine. Tổng khối lượng Methamphetamine mà Vũ Đức T tàng trữ để sử dụng là 0,1092 gam.

Hành vi cất giấu ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là là 0,1092 gam của bị cáo Vũ Đức T nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Vũ Đức T là người đã trưởng thành nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi lén lút cất giấu ma túy để sử dụng là trái pháp luật, xâm phạm đến nguyên tắc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy nhưng do bị nghiện nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Methamphetamine là chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh và sức khỏe của người sử dụng nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của mình mà bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, không những tiếp tay cho các tệ nạn xã hội mà còn làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho gia đình và cộng đồng dân cư.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ngoài ra bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân không tốt và bị cáo có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[5] Xử lý vật chứng: Toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 11cm, được uốn cong và thổi phồng một đầu: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1168/1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu YETT; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, kích thước khoảng (02 x 02)cm, đã cắt lấy mẫu và 0,0326 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1168/2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trên không có đoạn ống thủy tinh: Được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02. Xét thấy đây là vật không có giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Đa, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là phù hợp.

[6] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Vũ Đức T, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Bị cáo Vũ Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 26-9-2024.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017); Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 11cm, được uốn cong và thổi phồng một đầu: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1168/1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu YETT; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, kích thước khoảng (02 x 02)cm, đã cắt lấy mẫu và 0,0326 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1168/2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trên không có đoạn ống thủy tinh: Được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02. (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 05-11-2024).

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc bị cáo Vũ Đức T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21-11-2024).

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Tuy Phong;
  • -CA huyện Tuy Phong;
  • -THADS huyện Tuy Phong;
  • -Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • -Bị cáo;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kiêm Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 125/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 26-9-2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger