Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HS-ST

Ngày: 21-11-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị An

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Đặng Thị Sinh
  • 2. Ông Phạm Việt Dũng

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Thành Công – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn L; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 09/6/1978; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm H, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 09/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Nông Tuấn Đ, đã chết; con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1951; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: chưa có;

Tiền án: 2

  • + Bản án số 47 ngày 25/10/1999 của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nông Văn L 30 tháng tù về tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Chấp hành xong hình phạt tù ngày ngày 29/7/2001. Chưa thi hành phạt bổ sung (chưa được xoá án tích).
  • + Bản án số 01/HSST ngày 13/01/2014 của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nông Văn L 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2022. Chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Tại Quyết định số 191941 ngày 10/4/2008 của Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính đối với Nông Văn L về hành vi Trộm cắp tài sản, mức phạt 150.000 đồng.
  • + Bản án số 117/2009/HSST ngày 23/4/2009 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Nông Văn L 36 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2011 và chấp hành xong án phí ngày 05/8/2011 (Bản án đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ (có mặt).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lý Văn T1, sinh năm 1958

Địa chỉ: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)

+ Người làm chứng:

1, Anh Lý Văn T2, sinh năm 1981

Địa chỉ: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên 2, Anh Dương Văn T3, sinh năm 1999

Địa chỉ: TDP A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

(đều vắng mặt)

+ Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1958

Địa chỉ: Xóm H, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 05 phút ngày 18/6/2024, Tổ công tác của Công an xã K đang tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã K thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà của Nông Văn L thuộc xóm H, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thường xuyên tụ tập đông người có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm ma tuý. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, xác minh tại nhà Nông Văn Lợi thì phát hiện, thu giữ của L, vật chứng, gồm:

  • + 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng tại vị trí cửa phòng bếp tiếp giáp với buồng ngủ nhà của L (L khai đây là chất ma tuý, loại Heroine của L, mục đích sử dụng cho bản thân); niêm phong vào phong bì ký hiệu L1;
  • + 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy màu vàng, kích thước 08cmx17,5cm tại vị trí cửa phòng bếp tiếp giáp với buồng ngủ nhà của L và 02 bơm kim tiêm, 02 ống nước cất chưa qua sử dụng tại túi quần phía bên phải đang mặc của L; niêm phong vào phong bì ký hiệu L2;
  • + 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu sơn đỏ đen, BKS: 20R1-5015.

Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Hồi 07 giờ 00 phút ngày 19/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Nông Văn L. Kết quả khám xét không thu giữ gì. Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nông Văn L (trong phong bì ký hiệu L1) có tổng khối lượng là 0,127 gam. Lấy toàn bộ chất bột màu trắng niêm phong vào phong bì ký hiệu A1, gửi giám định.

Tại kết luận giám định số 750/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 (thu giữ của Nông Văn L) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,127 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn L khai nhận: Bản thân L là người nghiện ma túy. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, L đang ở nhà thì có anh Lý Văn T2, sinh năm: 1981, trú tại xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu đỏ, BKS: 20R1-5015 đến chơi, một lúc sau có thêm anh Dương Văn T3, sinh năm: 1999, trú tại Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến. Lúc này, L nảy sinh ý định đi mua chất ma tuý, loại Heroine về sử dụng cho bản thân, L hỏi mượn xe mô tô của anh T2 và nói với anh T2 mượn xe để đi mua thuốc lá thì anh T2 đồng ý. L một mình điều khiển xe mô tô của anh T2 đi tìm mua chất ma tuý, khi đi đến khu vực Trung tâm Đ1 thuộc Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì gặp và hỏi mua của 01 người đàn ông không quen biết được 01 gói ma tuý, loại Heroine, được gói bằng gói giấy màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua xong, L đi về nhà để sử dụng. Về đến nhà, L thấy anh T2, anh T3 vẫn đang ngồi uống nước tại phòng khách nhà mình, L dựng xe mô tô ngoài sân rồi đi thẳng vào trong gian phòng bếp và lấy gói Heroine vừa mua ra để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã K, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • + 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu sơn đỏ đen, BKS: 20R1-5015;
  • + 01 phong bì niêm phong A1 (mẫu vật còn lại sau giám định);
  • + 01 phong bì niêm phong A2 (vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong L1);
  • + 01 phong bì niêm phong L2 (01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy màu vàng, kích thước 08cmx17,5cm; 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 02 ống nước cất);

Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 118/CT-VKSĐT ngày 21/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nông Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn L từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong A1; 01 phong bì niêm phong A2; 01 phong bì niêm phong L2. Trả lại cho ông Lý văn T1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu đỏ, BKS: 20R1-5015.

Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.

Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

Nông Văn L là người nghiện ma túy, thường xuyên đi mua ma túy để sử dụng. Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 18/6/2024 tại nhà của Nông Văn L thuộc xóm H, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,127 gam chất ma tuý, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã K phát hiện, thu giữ vật chứng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang và lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. L có 02 tiền án về tội phạm ma túy, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

o. Tái phạm nguy hiểm.

[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo có 02 tiền án, đã bị xét xử về các tội liên quan đến ma túy. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân rất xấu, đã từng bị xét xử về cùng loại tội liên quanvà phải chấp hành hình phạt tù nhiều lần; đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo cất giữ ma tuý với mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời, mặt khác, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong A1 (mẫu vật còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong A2 (vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong L1); 01 phong bì niêm phong L2 (01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy màu vàng, kích thước 08cmx17,5cm; 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 02 ống nước cất) là vật chứng vụ án, không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu đỏ - đen, BKS: 20R1-5015 Lợi dùng để đi mua ma túy vào ngày 18/6/2024. Quá trình điều tra, xác định đây là xe của ông Lý Văn T1, ông T1 xác định ngày 18/6/2024 ông cho anh Lý Văn T2 là con trai mượn xe mô tô đi làm việc. Sau đó, anh T2 đã cho L mượn xe mô tô để đi mua thuốc lá. Ông T1 và anh T2 không biết L sử dụng xe để đi mua ma túy. Tại phiên tòa, ông T1 đề nghị được xin lại chiếc xe để sử dụng vì đây là phương tiện đi lại của gia đình. Xét thấy ông T1 không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả cho ông T1 chiếc xe để quản lý, sử dụng

[5] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có sổ hộ nghèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Về nguồn gốc số ma tuý, loại H, L khai mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực Trung tâm điều trị Methadol thuộc Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với ông T1 và anh T2 đều không có liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với ông T1 và anh T2 là phù hợp.

Ngoài ra, khi phát hiện bắt quả tang L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý thì tại nhà L có anh Lý Văn T2 và anh Dương Văn T3. Quá trình điều tra xác định, anh T2 và anh T3 không biết L có H và L không nói cho anh T2, anh T3 biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét, xử lý đối anh T2, anh T3.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nông Văn L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, A2, L2.

Trả cho ông Lý Văn T1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave RSX, màu đỏ - đen, BKS 20R1-5015, số máy JC43E-5745877, số khung RLHJC4323AY267409.

(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ).

3. Án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND H.Đại Từ;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an H.Đại Từ;
  • - Chi cục THADS H.Đại Từ;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - UBND xã Khôi Kỳ, Đại từ, TN;
  • - Bị cáo; NLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Thị An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 125/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nông Văn Lợi phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Nông Văn Lợi 06 (sáu) năm tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger