Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số:125 /2024/HS-PT

Ngày 12 - 12 - 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Anh

Ông Nguyễn Quang Trung

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt-Thư ký Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 155/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024.Do có kháng cáo của bị cáo Võ Thị H2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

- Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Võ Thị H2, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 5 năm 1962 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Quý S (đã chết), và bà: Nguyễn Thị H (đã chết); Chồng Trương Xuân Đ và 02 người con (lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1988); Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/12/2023 đến nay tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An - (Có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Tất H1, sinh năm 1984. Có mặt

Địa chỉ: xóm N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. - Người làm chứng:

  1. Anh Trương Hải N, sinh năm: 1988 (vắng mặt)

    Địa chỉ: xóm Châu Quệ, xã Châu Đình, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An

  2. Anh Lữ Văn L, sinh năm 1982 (vắng mặt)

    Địa chỉ: bản Cáng, xã Châu Đình, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An

  3. Anh Vi Văn Đ1, sinh năm: 1990 (vắng mặt)

    Địa chỉ: bản Cáng, xã Châu Đình, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An

  4. Anh Nguyễn Chiến T, sinh năm: 1986 (vắng mặt)

    Địa chỉ: xóm N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An

  5. Anh Trương Xuân Đ, sinh năm: 1960 (vắng mặt)

    Địa chỉ: xóm C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An

  6. Anh Lương Văn T1, sinh năm: 1978 (vắng mặt)

    Địa chỉ: bản Cáng, xã Châu Đình, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An

  7. Đại diện Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Q: Ông Lưu Văn S1 – Chuyên viên Chi nhánh V.(vắng mặt)

    Địa chỉ: khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 9/2021, gia đình bị cáo Võ Thị H2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 36, 40 tờ bản đồ số 45, địa chỉ thửa đất thung Tắc Kè, thuộc bản Cáng, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An có diện tích 15.165,2 m² và toàn bộ cây mía trên đất cho gia đình anh Nguyễn Tất H1 với số tiền 350.000.000 đồng. Tháng 5/2022, anh Nguyễn Tất H1 và bị cáo Võ Thị H2 tranh chấp diện tích đất ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chuyển nhượng là 5.000 m². Sau nhiều lần giải quyết không thành, khoảng 14 giờ ngày 23/9/2022, bị cáo Võ Thị H2 đã thuê anh Vi Văn Đ1, Lữ Văn L, nhờ anh Nguyễn Chiến T sử dụng máy cắt cỏ để phát cây mía trên diện tích đất đang tranh chấp với mục đích để trồng cây keo. Bị cáo Võ Thị H2 đưa máy cắt cỏ, chỉ vị trí đất có mía cho anh Đ1, anh L, anh T phát. Quá trình chặt phát mía, anh L, anh Đ1 và anh T đã phát vào diện tích trồng mía trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho gia đình anh Nguyễn Tất H1.

Theo sơ đồ hiện trường lập ngày 01/11/2022 mà bị cáo Võ Thị H2 xác định thì diện tích cây mía bị chặt phát nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Tất H1 có diện tích là 310,5 m².

Theo sơ đồ hiện trường anh Vi Văn Đ1 và anh Lữ Văn L xác định ngày 05/4/2023 thì diện tích cây mía bị chặt phát nằm trong diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh Nguyễn Tất H1 là 318,9 m². Diện tích cây mía bị chặt phát nằm ngoài diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh Nguyễn Tất H1, có diện tích là 1.277,0m².

Công văn số 311 ngày 13/9/2023, của cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Q đề nghị Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Q, xác định: Vị trí toạ độ và diện tích (m²) đất nằm ngoài diện tích theo vị trí toạ độ, do bị cáo Võ Thị H2 xác định vào ngày 01/11/2022 so với diện tích đất theo vị trí toạ độ do anh Vi Văn Đ1 và anh Lữ Văn L xác định vào ngày 05/4/2023. Công văn số 615 ngày 15/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Q, xác định: Vị trí toạ độ và diện tích đất do bị cáo Võ Thị H2 xác định vào ngày 01/11/2022 thì diện tích cây mía bị chặt phát nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Tất H1, có diện tích là 252,7 m² (Vì có 57,8 m² diện tích cây mía bị chặt phát theo sơ đồ hiện trường do bị cáo Võ Thị H2 xác định ngày 01/11/2022 trùng với diện tích cây mía bị chặt phát theo sơ đồ hiện trường do anh Vi Văn Đ1 và anh Lữ Văn L xác định ngày 05/4/2023).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Q, kết luận: Cây mía trên diện tích 318,9 m², loại mía 7 tháng tuổi, tại thời điểm định giá tháng 9 năm 2022, có giá trị là 1.913.400 đồng (Một triệu chín trăm mười ba nghìn bốn trăm đồng).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 109/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Q, kết luận: Cây mía, diện tích 252,7 m², loại mía đường 7 tháng tuổi, định giá tháng 9 năm 2022 có giá trị là 1.516.200 đồng (Một triệu năm trăm mười sáu nghìn hai trăm đồng).

Như vậy, diện tích mía của gia đình anh Nguyễn Tất H1 nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số DC 742030, thửa đất số 36 và 40, tờ bản đồ số 45 tại thung T, thuộc bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An bị Võ Thị H2 chặt, phát mía với mục đích cho cây mía chết để trồng cây keo là diện tích do anh Lữ Văn L, Vi Văn Đ1 phát là 318,9 m² và do anh Nguyễn Chiến T phát (chính là diện tích đất trồng mía do bị cáo chỉ) là 252,7 m². Tổng diện tích đất trồng mía bị chặt phát là 318,9 m² + 252,7 m² =571,6 m² (Năm trăm bảy mươi mốt phẩy sáu mét vuông), giá trị bị thiệt hại là 3.429.600 đồng (Ba triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An quyết định: Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Thị H2 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ về tội “ Huỷ hoại tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Võ Thị H2 cho chính quyền Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An quản lý, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ theo quy định luật Thi hành án hình sự. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 luật Thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 584, các Điều 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Võ Thị H2 bồi thường thiệt hại tài sản cho anh Nguyễn Tất H1 số tiền là 3.429.600 đồng. Được khấu trừ số tiền 1.800.000 đồng mà bị cáo Võ Thị H2 đã nộp theo BL thu tiền số 0007353 ngày 28/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp (anh Nguyễn Tất H1 được nhận số tiền 1.800.000 đồng). Bị cáo Võ Thị H2 bồi thường tiếp cho anh Nguyễn Tất H1 số tiền 1.629.600 (Một triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm) đồng.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ về án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, bị cáo Võ Thị H2 làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Không công nhận diện tích đo lần 2 ngày 05/4/2023 diện tích 318,9m² quá trình đo không có bị cáo tham gia và diện tích đo lần 2 chồng lấn lên nhau và cộng 02 diện tích lại có tổng 571,6m² để buộc bị cáo trách nhiệm hình sự là không đúng.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, cho rằng hành vi của bị cáo chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An: Sau khi phân tích các các liệu chứng cứ có tại hồ sơ và nội dung kháng cáo của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị H2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Lô Võ Thị H2 tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết, bị cáo thấy hành vi của mình chưa đủ căn cứ để chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo chỉ đến mức xử phạt hành chính.

Người bị hại tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, diện tích mía bị cáo thuê người chặt, phá của bị hại lớn hơn 1.000m², đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Quá trình đối đáp, sau khi phân tích Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo Võ Thị H2 làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[1.1] Về sự vắng mặt của người làm chứng: Bị cáo H2 đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Võ Thị H2:

[2.1] Đối với kháng cáo cho rằng kết quả đo diện tích lần 2 ngày 05/4/2023 đo được diện tích 318,9m² là không đúng vì không thông báo cho bị cáo tham gia, chỉ có nhân chứng đi đo: Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ Biên bản xác định hiện trường ngày 05/4/2023 (BL 60) thể hiện có sự tham dự của anh Vi Văn Đ1, anh Lữ Văn L và anh Lương Văn T1 và người chứng kiến là anh Nguyễn Tất H1. Như vậy, về tố tụng thành phần tham gia phù hợp với 2 khoản 201 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên hợp pháp. Bị cáo cho rằng bị cáo không được tham gia, thấy rằng bị cáo là người trực tiếp thuê anh Đ1 và anh L chặt, phát cây mía nên anh Đ1 và anh L là người trực tiếp thực hiện nên tham gia để xác định hiện trường là có căn cứ. Do đó, bị cáo kháng cáo cho rằng, bắt buộc phải có bị cáo tham gia là không đúng.

Đối với diện tích xác định hiện trường ngày 05/4/2023 bị cáo cho rằng chồng lấn lên diện tích xác định lần 1: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo H2 thừa nhận thuê anh Đ1, anh L và nhờ anh T chặt, phát. Quá trình điều tra anh T thừa nhận vị trí bị cáo H2 nhờ chặt phát, phù hợp với Biên bản xác định hiện trường lần 01 có diện tích 310,5- (57,8 m² chồng lần) = 252,7m², diện tích anh Đ1 và anh L xác định bị cáo H2 chỉ chặt,phát phù hợp với Biên bản hiện trường lần 2. Như vậy, đủ căn cứ xác định bị cáo H2 nhờ anh T phát trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H1 có diện tích là 252,7m², anh Đ1 và anh L chặt có diện tích 318,9m².Ngoài ra, khi ốp tọa độ giữa hai biên bản có 57,8m2 diện tích anh Đ1 và anh L chỉ ngày 05/4/2023 có chồng lấn lên liện tích bị cáo H2 xác định ngày 01/11/2022 nên đã được trừ ra (310,5 – 57,8= 252,7m²). Do đó bị cáo kháng cáo cho rằng diện tích hai biên bản chồng lấn lên nhau là không có căn cứ.

[2.2] Đối với kháng cáo đề nghị Hủy bản án sơ thẩm do bị cáo chưa đủ căn cứ chịu trách nhiệm hình sự: Thấy rằng, sau khi tiếp nhận tố giác tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành đo đạc khu vực hiện trường nơi xẩy ra vụ việc. Theo trình bày của anh Nguyễn Tất H1 thì diện tích bị chặt phá trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H1 là 1001,9m². Theo trình bày của bị cáo Võ Thị H2 diện tích bị chặt phá trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của H1 được xác định 310,5m². Ngày 05/4/2023 Cơ quan điều tra tiến hành xác định hiện trường theo trình bày của anh Vi Văn Đ1 và anh Lữ Văn L, là những người bị cáo H2 thuê chặt, phát mía vào ngày 23/9/2022, Cơ quan điều tra xác định diện tích anh Đ1 và anh L chặt, phát trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H1 là 318,9m² (BL 55-92). Ngày 13/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ban hành Công văn số 311, đề nghị Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện quỳ Hợp xác định vị trí, tọa độ và diện tích đất nằm ngoài diện tích theo vị trí tọa độ bị cáo H2 chỉ ngày 01/11/2022 so với vị trí tọa độ anh Đ1 và anh L chỉ ngày 05/4/2023. Xác định vị trí tọa độ diện tích mía bị chặt trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H1 và diện tích ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại công văn số 615 ngày 15/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Q xác định: Vị trí toạ độ và diện tích đất do bị cáo Võ Thị H2 xác định vào ngày 01/11/2022 thì diện tích cây mía bị chặt phát nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Tất H1, có diện tích là 252,7 m². Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H2 thừa nhận bị cáo có thuê chặt phát, mía của anh H1 diện tích 310,5m², theo bị cáo chỉ đủ điều kiện để xử phạt hành chính. Tuy nhiên, căn cứ kết quả điều tra, lời khai của người làm chứng, kết quả xác định hiện trường, kết luận giám định. Đủ căn cứ xác định bị cáo thuê anh Đ1, anh L và nhờ anh T chặt, phát diện tích trồng mía của gia đình anh H1 tổng diện tích 571m2 là có căn cứ.

Như vậy, căn cứ vào kết quả điều tra, lời khai của những người làm chứng liên quan. Đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Thị H2, biết rõ vị trí, ranh giới đất trồng mía trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Tất H1 (vì trước đó bị cáo H2 đã thuê Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q, đo đạc và xác định ranh giới) nhưng vẫn cố tình thuê anh L, anh Đ1 và nhờ anh T sử dụng máy cắt cỏ cắt tận gốc cây mía trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia định anh H1 tổng diện tích 571m² có gía trị 3.429.600đ. Nên bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo H2 về tội “hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Bản án sơ thẩm đã đánh giá, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 07 tháng cải tạo không giam giữ là đúng người, đúng tội.

[2.3] Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Võ Thị H2, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm anh Nguyễn Tất H1 yêu cầu xem xét diện tích bị cáo H2 chặt, phát mía của anh là hơn 1.000m². Tuy nhiên, đối với nội dung này, sau khi xét xử sơ thẩm anh H1 không kháng cáo nên không có căn cứ để xem xét.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Thị H2 không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị H3, giữ nguyên toàn bộ nội dung và quyết định của Bản án sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

  2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Võ Thị H2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND, VKSND h. Quỳ Hợp;
  • - Chi cục THADS h. Quỳ Hợp;
  • - Công an huyện Quỳ Hợp;
  • - UBND xã Châu Đình;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu Hsơ, Toà hsự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hải Minh

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 15 giờ 45 phút ngày 10 tháng 03 năm 2021,

Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh S2; Bà Trần Thị Mỹ H6

Tiến hành nghị án vụ án HSPT thẩm thụ lý số 267/2020/TLPT-HS ngày 20/11/2020

Đối với bị cáo: Lê Văn H4 bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn xử phạt 03 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích".

Căn cứ Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Xét kháng cáo: Căn cứ điểm b khoản 1 điều 355, điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H4, sửa Bản án sơ thẩm.

    Biểu quyết 03/03 = 100% nhất trí.

  2. Về nội dung: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn H4 02 (H5) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2020.

    Căn cứ Biểu quyết 03/03= 100% nhất trí.

  3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Văn H4 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    Biểu quyết 03/03 = 100% nhất trí.

  4. Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Biểu quyết 03/03= 100% nhất trí.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Biểu quyết 3/3= 100%.

Nghị án kết thúc vào hồi 16 giờ 05 phút, ngày 10 tháng 03 năm 2021.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các thẩm phán

Nguyễn Anh Sơn Trần Thị Mỹ H6

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hải M

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 125/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger