Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:125/2024/HS-PT

Ngày: 10/7/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trọng Danh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Ông Trần Minh Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 105/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Hà Ngọc C do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo kháng cáo: Hà Ngọc C (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 13/11/1978 tại Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: 233 – B H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Trú tại: E B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Ngọc L (chết) và bà Bùi Thị X (chết); vợ Trần Thị Thanh N, sinh năm: 1991, có 04 con: lớn sinh năm 2015 và con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Hà Ngọc C: Bà Trần Thị Thanh N, sinh năm: 1991 (là vợ); Địa chỉ: E B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Hà Ngọc C: Bà Trần Thị Thùy T – Luật sư Văn phòng L1, có mặt.

Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 6/2019, ông Nguyễn Đăng D là chồng của bà Nguyễn Thị H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, TP. khởi tố bị can và bắt tạm giam về các tội "Cưỡng đoạt tài sản", "Đánh bạc" và "Giữ người trái pháp luật". Ông Lê Quốc V (là bạn của ông D) hành nghề lái xe công nghệ (grap) và thường xuyên chở Hà Ngọc C, nghe C kể là có thể “chạy án" cho người khác, nên V cho bà H số điện thoại để gặp nhờ C “chạy án” cho ông D. Sáng ngày 18/8/2019, bà H cùng với ông Nguyễn Xuân N1 (là cha của D) và ông Phùng H1 (là bạn của D) đến nhà C tại số B H, phường H, quận H, TP.. Sau khi nghe bà H kể lại sự việc D bị khởi tố, bắt tạm giam và ngỏ ý muốn nhờ C giúp, thì C đưa ra thông tin gian dối là sẽ "chạy án” giúp cho D không bị xử lý hình sự hoặc xử án treo với số tiền là 200.000.000 đồng. Bà H tin tưởng, nên đồng ý và đã 02 lần chuyển cho C tổng số tiền là 120.000.000 đồng, cụ thể:

Lần 01: Sáng ngày 03/9/2019, bà H cùng ông N1 đến quán cà phê "99", tại số I L, phường H, quận H, TP., đưa cho C 110.000.000 đồng.

Lần 02: Sáng ngày 11/9/2019, bà H tiếp tục đến Bưu điện Đ, tại số B C, phường H, quận C, TP chuyển cho C 10.000.000 đồng vào tài khoản số [...] đứng tên Hà Ngọc C mở tại ngân hàng S và sử dụng Zalo số 0979897469 để nhắn tin vào số zalo 0934964882 cho C. Sau khi nhận được tiền, C sử dụng, tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 16/11/2020, D bị Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng xử phạt 04 năm 6 tháng tù giam về các tội "Cưỡng đoạt tài sản", "Đánh bạc" và "Giữ người trái pháp luật" bà H biết mình bị lừa nên yêu cầu C trả lại số tiền nói trên, nhưng C không trả.

Ngày 03/3/2021, bà H đến Công an phường H, quận H tố cáo Hà Ngọc C về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc C 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 08/4/2024 bị cáo Hà Ngọc C có đơn kháng cáo với nội dung: xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Hà Ngọc C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật. Xét mức án 02 (hai) năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, không nặng. Đồng thời tại phiên Tòa hôm nay bị cáo không bổ sung thêm tình tiết gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Ngọc C, giữ nguyên án sơ thẩm.
  • - Bị cáo Hà Ngọc C giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Ngọc C giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
  • - Quan điểm bào chữa của luật sư Trần Thị Thùy T cho bị cáo Hà Ngọc C như sau: Thống nhất về tội danh, điểm khoản và Điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo nên không có tranh luận về nội dung này; Tuy nhiên, luật sư cho rằng khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, bởi lẽ bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, hoàn cảnh gia đình khó khắn, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công với cách mạng, con bị cáo đang nhỏ. Từ đó, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điều 54, 65 BLHS thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu, kết luận giám định, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tháng 8/2019 Hà Ngọc C đã có thủ đoạn gian dối, bằng hình thức đưa thông tin có thể xin cho chồng bà Nguyễn Thị H không bị xử lý hình sự hoặc xử án treo để chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị H tổng số tiền 120.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Ngọc C đã phạm vào tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

[2] Đối với số tiền C đưa ra thông tin gian dối lúc đầu là sẽ "chạy án” giúp cho D không bị xử lý hình sự hoặc xử án treo ban đầu với số tiền là 200.000.000 đồng. Tuy nhiên sau đó, bị cáo và Nguyễn Thị H đã thỏa thỏa thuận thống nhất chuyển cho C 120.000.000 đồng, số tiền và ý định chiếm đoạt đã thay đổi so với ban đầu. Do đó cấp sơ thẩm xem xét số tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt 120.000.000 đồng là phù hợp.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ, HĐXX nhận định như sau: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo lợi dụng lòng tin, đưa ra thông tin gian dối để để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bản án sơ thẩm cũng đã đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định pháp luật. Qua đó áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là phù hợp

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu do hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn, sau khi phạm tội đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại thời điểm phạm tội bị cáo là người bị hạn chế năng lực hành vi, gia đình có công với cách mạng, cha ruột bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, phía bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hiện tại bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng cải tạo. Vì vậy, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Xét bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cho bị cáo một cơ hội nữa làm lại cuộc đời giao về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng răn đe, phòng ngừa, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo, chữa bệnh là nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật XHCN, ghi nhận sự cống hiến của những gia đình có công với cách mạng, với đất nước.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù mà cấp sơ thẩm đã áp dụng, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Do chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo Hà Ngọc C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Ngọc C, sửa Bản án sơ thẩm.

  3. Căn cứ:
  4. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc C 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là: 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 10/7/2024.

    Tuyên: Giao bị cáo Hà Ngọc C về UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng tiếp tục theo dõi, giám sát, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách của án treo, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  6. Bị cáo Hà Ngọc C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  7. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - HSNV - Công an TP Đà Nẵng;
  • - TAND quận Hải Châu;
  • - THA DS quận Hải Châu;
  • - Sở Tư pháp TP Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Trọng Danh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Anh Tuấn

Bùi Trọng Danh

Trần Minh Long

 

Nhà bị cáo thuê từ tháng 4 năm 2023. Hiện nay bị cáo làm nghề tự do ạ. Trước có dạy học tiếng anh. Bị cáo có 1 vợ một con

Con lớn nhát 2015; nhỏ nhất 2021.

Bị cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo và đề nghị hội đồng xét xử xem xét.

Nội dung vừa công bố đúng ạ.

H:

Đ: Bị cáo biết bà H qua ông V, ông V lái xe G hay chở bị cáo đi.

H:

Đ: Bị cáo thỏa thuận nhận 200.000.000 triệu do chị H đề xuất ạ.

H: Bị cáo và chị H thực tế nhận bao nhiêu?

Đ: Dạ 120.000.000 triệu ạ.

H: Bị cáo sử dụng tiền đó vào mục đích gì?

Đ: Dạ bị cáo tiêu xài cá nhân ạ. Lúc đó bị cáo cũng bí quá nên mới làm như vậy.

H: Nhà 233-235 Hàn Thuyên vì sao bị cưỡng chế?

Đ: Dạ bị cáo có cầm cố nhà kinh doanh rồi phải bán trả nợ, thua lỗ ạ.

H: Bị cáo có đem tiền đó tác động đến cơ quan pháp luật không?

Đ: Dạ thưa không.

H: Bị cáo đã trả được cho bị hại chưa?

Đ: Dạ bị cáo đã trả 120 triệu tiền gốc và 30 triệu tiền lãi theo yêu cầu của bị hại.

H: Bị cáo nhận thức thế nào về hành vi của mình?

Đ: Dạ bị cáo ăn năn, hỗi lỗi và nhận thấy hành vi của mình là sai.

H: Bị cáo có cho ông V tiền không?

Đ: Dạ không ạ.

H: Nhà bị cáo có mấy đưa con?

Đ: Dạ 4 đứa ạ. Nên rất mong hDXX xem xét cho bị cáo.

H: Bị cáo bị hạn chế nhận thức năng lực hành vi từ khi nào?

Đ: Từ hồi đang học đại học. Bị cáo hay cáu giận, quậy phá, rồi chạy ngoài đường ạ. Cũng có tự điều trị uống thuốc ạ.

H: Sức khỏe của bị cáo hiện nay như thế nào?

Đ: Dạ thi thoảng bị cáo có căng thẳng thần kinh.

H: Bị cao trả 120 triệu cho bị hại khi nào?

Đ: Từ tháng 10-11/2021 ạ.

H: Đối với số tiền 30 triệu bị hại yêu cầu thêm bị cáo có đồng ý không?

Đ: Dạ có và gia đình bị cáo bồi thường rồi ạ.

* Hỏi chị N:

H: Gia đình bồi thường tiền chưa?

Đ: Bồi thường hết rồi ạ.

H: Chị biết bị cáo bị bệnh không?

Đ: Dạ không cưới về mới biết ạ.

H: Trong quá trình sinh sống bị cáo có biểu hiện gì hạn chế năng lực khoong?

Đ: Khi có vấn đề xung đột xẩy ra, thì không kiểm soát được cảm xúc, dễ nổi nóng.

H: Chị làm nghề gì?

Đ: Dạ buôn bán tự do.

H: ck chị làm gì?

Đ: Dạ môi giới bán tàu ạ.

H: Sau khi xử sơ thẩm, ông N1 nhận được đầy đủ 30 triệu rồi ạ.

H: Chồng chị có đưa số tiền lừa đỏa về cho gia đình không?

Đ: Dạ không ạ.

H: Chị hiện nay làm nghề gì?

Đ: buôn bán đồ điện máy, bán online thu nhập khoàng 7-8 triệu một tháng. Còn chồng tôi làm dịch vụ môi giới buôn bán nhà đất khoảng 2 năm nay không có thu nhập.

H: Huân chương kháng chiến hạng 3 là của ai?

Đ: Dạ của ba chồng ạ.

Bà N xin cho bị cáo được hưởng án treo.

* Kiểm sát viên hỏi bị cáo:

H: Hành vi phạm tôi đưa ra có đúng với hành vi phạm tội của bị cáo không?

Đ: Dạ có đúng ạ.

H: Bị cáo có thay đổi lời khai gì so với trước đây không?

Đ: Dạ không ạ.

Bị cáo không tranh luận gì, chị N không tranh luận gì.

Vks giữ nguyên quan điểm vì cho rằng hành vi của bị cáo ảnh hưởng đến uy tín hệ thống tư pháp, ảnh hưởng đến trật tự trị án xã hội.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, bị coa ăn năn hối cải, xin hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục ở nhà chăm lo cho vợ con,]

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm)

  • Số bản án: 125/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xử phạt Bị cáo Hà Ngọc Công 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger