Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST

Ngày 21 tháng 8 năm 2024

“V/v ly hôn”


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Nguyên Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bạn
2. Bà Võ Thị Bời

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thư Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 379/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thái Thị H, sinh năm 1981

Nơi cư trú: 19/6 Nguyễn Khắc V, Tổ A H, phường V, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Đậu Văn T, sinh năm 1974.

Nơi cư trú: 19/6 Nguyễn Khắc V, Tổ A H, phường V, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Thái Thị H trình bày:

Bà và ông Đậu Văn T tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 31/01/2001. Quá trình chung sống, cả hai xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên

1

cãi vã và không tìm được tiếng nói chung. Trong 03 năm ly thân, bà và ông T không còn quan tâm đến nhau. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn với ông Đậu Văn T.

Cả hai có hai con chung là: Đậu Quang H1, sinh ngày 11/01/2002 và Đậu Thanh N, sinh ngày 14/03/2008. Nếu ly hôn, bà đồng ý để ông Trung trực t chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Cháu H1 đã trưởng thành, có sức khỏe bình thường nên bà không có yêu cầu gì. Vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 17/6/2024 bị đơn ông Đậu Văn T trình bày:

Ông và bà Thái Thị H tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, huyện N, tỉnh Nghệ An năm 2001. Vì không thể chung sống với nhau nên ông đồng ý ly hôn với bà H.

Đối với hai con chung là: Đậu Quang H1, sinh ngày 11/01/2002 và Đậu Thanh N, sinh ngày 14/03/2008; cháu H1 đã trưởng thành, khỏe mạnh nên ông không có yêu cầu. Ông đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và đồng ý việc bà H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Cả hai tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, xét mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung: cháu Đậu Quang H1, sinh ngày 11/01/2002 đã thành niên, có sức khỏe bình thường, các đương sự không có yêu cầu gì nên không xét. Bà H và ông T đều đồng ý giao cháu Đậu Thanh N, sinh ngày 14/03/2008 cho ông T chăm sóc, bà H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng số tiền 1.000.000 đồng nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Các đương sự tự thỏa thuận về tài sản chung và xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

2

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Thái Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc ly hôn với ông Đậu Văn T. Ông T có địa chỉ cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Nguyên đơn bà Thái Thị H và bị đơn ông Đậu Văn T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. Về quan hệ hôn nhân:

    Thái Thị H và ông Đậu Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 31/01/2001 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

    H và ông T đều thừa nhận quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên cả hai không hạnh phúc. Ông T đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà H và không có thiện chí để đoàn tụ gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị ly hôn của bà H là chính đáng, có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

  3. Về con chung:

    H và ông T có hai con chung là cháu Đậu Quang H1, sinh ngày 11/01/2002 và Đậu Thanh N, sinh ngày 14/03/2008. Cháu H1 đã thành niên, có sức khỏe bình thường, các đương sự không có yêu cầu gì nên không xét. Bà H và ông T đều đề nghị để ông T là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đậu Thanh N, đề nghị này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N là muốn ở với ba (bút lục số 14) nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 1.000.000 đồng/tháng đến khi cháu N đủ 18 tuổi, ông T cũng đồng ý với đề nghị này nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Quá trình nuôi dưỡng con chung, cả hai đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Về tài sản chung: Nguyên đơn bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
  5. Về nợ chung: Nguyên đơn bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
  6. Về án phí:H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

3

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Thái Thị H được ly hôn với ông Đậu Văn T.
  2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung cháu Đậu Thanh N, sinh ngày 14/03/2008 cho ông Đậu Văn Trung trực t1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà H cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 09/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Con chung cháu Đậu Quang H1, sinh ngày 11/01/2002 đã thành niên, có sức khỏe bình thường, các đương sự không có yêu cầu gì nên không xét.

    Thái Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Quá trình nuôi dưỡng con chung, bà H và ông T đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về tài sản chung: Nguyên đơn bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  4. Về nợ chung: Nguyên đơn bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  5. Về án phí:Thái Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002365 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà H còn phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí.

Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4

6. Về quyền kháng cáo: Bà Thái Thị H và ông Đậu Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.


Nơi nhận:

- TAND tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND thành phố Nha Trang;

- Chi cục THADS thành phố Nha Trang;

- UBND xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn,

tỉnh Nghệ An (GCNKH ngày 31/01/2001);

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Bùi Nguyên Châu

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger