Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-9-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng, ông Nguyễn Tất Thể

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:

Bà Dương Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thái Nhật K, sinh năm: 1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tiểu khu B, TDP H, phường S, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; hiện đang sinh sống và làm việc tại D (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Xuân N, sinh năm: 1996; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số G ngõ A đường H, tiểu khu B, TDP H, phường S, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Thái Nhật K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Nhật K và anh Phạm Xuân N đăng ký kết hôn vào ngày 07/11/2019 tại Ủy ban nhân dân phường S (nay là phường H), thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Ngay sau khi kết hôn, chị K phát hiện anh N có sử dụng chất kích thích (thuốc cỏ) nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Chị K đã khuyên ngăn anh N không sử dụng nhưng không được. Đến tháng 05/2021, anh N bị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Sau khi cai nghiện về, anh N lại tiếp tục sử dụng chất kích thích và lại bị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tháng 11/2021, chị K đi xuất khẩu lao động, từ đó đến nay vợ chồng cắt đứt liên lạc. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Thái Nhật K làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Xuân N.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc Khả N1, sinh ngày 24/05/2020. Hiện nay cháu N1 đang được bà Phạm Thị N2 (mẹ đẻ của anh N) chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, do chị K cũng đi xuất khẩu lao động nên chị K đề nghị Tòa án giao con chung cho anh Phạm Xuân N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh N đi cai nghiện, chị K thống nhất việc anh N sẽ nhờ mẹ đẻ là bà Phạm Thị N2 thay anh N chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi anh N trở về. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị K tự nguyện thực hiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Thái Nhật K đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án vì lý do bận công việc, chuẩn bị trở lại Dubai để xuất khẩu lao động; Chị K cũng ủy quyền lại cho mẹ đẻ là bà Bùi Thị Lệ T chị K thực hiện việc giao nhận các tài liệu, văn bản tố tụng với Tòa án. Quá trình làm việc, bà Bùi Thị L đồng ý chấp nhận việc ủy quyền giao nhận tại liệu, văn bản của chị Thái Nhật K, cam kết sẽ thông báo lại kịp thời nội dung các tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án để chị K được biết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Xuân N đang đi cai nghiện tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh H; Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Phạm Xuân N tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh H với sự chứng kiến của nhân viên trung tâm. Tại buổi làm việc, bị đơn anh Phạm Xuân N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Xuân N thống nhất về nội dung trình bày của chị Thái Nhật K về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn. Anh N đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị K, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh N và chị K được ly hôn.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có một con chung là cháu Phạm Ngọc Khả N1, sinh ngày 24/05/2020. Khi ly hôn, anh N đề nghị Tòa án giao con chung cho anh N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu được Tòa án giao cho trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, trong thời gian anh N đi cai nghiện, anh N sẽ nhờ mẹ đẻ là bà Phạm Thị N2 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1 cho đến khi anh N trở về. Việc cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay anh N đang đi cai nghiện nên không thể tham gia tố tụng tại Tòa án nên anh N xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Anh N đề nghị Tòa án tống đạt các tài liệu, văn bản của Tòa án về địa chỉ Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh H cho anh N. Quá trình làm việc, bà Phạm Thị N2 trình bày nội dung bà tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Ngọc Khả N1 cho đến khi anh N trở về.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Thái Nhật K và anh Phạm Xuân N.

Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Phạm Ngọc Khả N1, sinh ngày 24/05/2020 cho anh Phạm Xuân N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên; trong thời gian anh N đi cai nghiện, tạm giao cháu N1 cho bà Phạm Thị N2 (mẹ đẻ của anh Phạm Xuân N) nuôi dưỡng, chăm sóc. Việc cấp dưỡng nuôi con do vợ chồng tự thỏa thuận.

Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Thái Nhật K và anh Phạm Xuân N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Thái Nhật K và anh Phạm Xuân N đăng ký kết hôn ngày 07/11/2019 tại Ủy ban nhân dân phường S (nay là phường H), thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị Thái Nhật K khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Xuân N. Hiện nay, chị K đang xuất khẩu lao động tại D. Chị K nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và sau đó trở lại D làm việc. Tại công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 798/QLXNC-Đ1 ngày 15/8/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh H, xác nhận: Chị Thái Nhật K, sinh ngày 20/7/1998 đã nhập cảnh ngày 28/03/2024 và xuất cảnh vào ngày 06/5/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Thái Nhật K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phạm Xuân N có ý kiến xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị K, anh N theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Nhật K và anh Phạm Xuân N tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2019, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường S (nay là phường H), thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị K và anh N là hợp pháp. Ngay sau khi kết hôn, chị K phát hiện anh N có sử dụng chất kích thích (thuốc cỏ) nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Chị K đã khuyên ngăn anh N không sử dụng nhưng không được. Sau đó anh N bị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tháng 11/2021, chị K đi xuất khẩu lao động, từ đó đến nay vợ chồng cắt đứt liên lạc. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Thái Nhật K làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Xuân N. Anh Phạm Xuân N thống nhất về nội dung trình bày của chị Thái Nhật K về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn; thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc chị K xin ly hôn thì anh N cũng đồng ý.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị K và anh N là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; chị K và anh N đều có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Thái Nhật K và anh Phạm Xuân N.

[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc Khả N1, sinh ngày 24/05/2020. Cả chị K và anh N đều thống nhất giao con chung cho anh Phạm Xuân N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Vợ chồng thống nhất nội dung trong thời gian anh N đi cai nghiện, anh N sẽ nhờ mẹ đẻ là bà Phạm Thị N2 chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi anh N trở về. Xét thấy việc thỏa thuận của hai vợ chồng là tự nguyện nên Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận. Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, giao con chung là cháu Phạm Ngọc Khả N1, sinh ngày 24/05/2020 cho anh Phạm Xuân N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp với quy định của pháp luật và sự thỏa thuận của các bên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng xác định không có tài sản chung, nợ chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Thái Nhật K và anh Phạm Xuân N.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Ngọc Khả N1, sinh ngày 24/05/2020 cho anh Phạm Xuân N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

    Chị Thái Nhật K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Thái Nhật K và anh Phạm Xuân N mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị Thái Nhật K được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000840 ngày 03/4/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh; trả lại cho chị K số tiền 225.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND phường Hưng Trí,
  • TX. Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tùng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂNHỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN
Bùi Văn HồngNguyễn Tất ThểHoàng Ngọc Tùng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger