TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2024/HNGĐ-PT Ngày: 25/9/2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hà
Các Thẩm Phán:
- Bà Mai Trần Cảnh
- Ông Phạm Công Toại
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Trần Thị Kim Nghĩa – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 19 và 25/9/2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm Vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 59/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05/6/2024.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4530/2024/QĐ-PT ngày 19/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 14136/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 19/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hữu H, sinh năm: 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Đường T, tổ B, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm: 1956 (có mặt)
Địa chỉ: Số D Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1986 (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là: Ông Phạm Hoàng H1, sinh năm: 1958 - Luật sư của Văn phòng luật sư Phạm Hoàng H1 - thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Địa chỉ: Số F tầng trệt, đường A, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nội dung vụ án của bản án sơ thẩm thể hiện:
Bà Lê Thị Hữu H và ông Phạm Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang theo Giấy đăng ký kết hôn số 58 ngày 10/5/2018. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không phù hợp tính tình và quan điểm sống. Hai bên đã tìm cách hàn gắn nhưng không thành. Vợ chồng ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Bà H yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống. Ông T cũng cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc, dẫn đến việc vợ chồng cãi vã và ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Nay ông cũng đồng ý ly hôn với bà H.
Về con chung: hai bên xác nhận có hai trẻ là Phạm Thị Mỹ H2, sinh ngày 07/5/2019 và Phạm Thị Mỹ L, sinh ngày 18/5/2023. Bà H hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng trẻ M, nay bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 2 con chung, nên đề nghị ông T giao Mỹ H2 cho bà nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ H2, để thuận tiện việc học tập của trẻ H2, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi trẻ H2. Ông T tự nguyện cấp dưỡng nuôi trẻ L mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi trẻ L đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng từ ngày 05 đến ngày 10 dương lịch hàng tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên xác nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã hòa giải nhưng không thành, hai bên thuận tình ly hôn, nhưng không thỏa thuận được việc nuôi con sau khi ly hôn.
Bản án sơ thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
“1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hữu H.
1.1. Về hôn nhân: Ghi nhận bà Lê Thị Hữu H và ông Phạm Văn T thuận tình ly hôn (Giấy đăng ký kết hôn số: 58 ngày 10 tháng 5 năm 2018, đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện H, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý).
1.2. Về con chung:
Giao con chung là trẻ Phạm Thị Mỹ H2, sinh ngày 07/5/2019 cho ông Phạm Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận ông Phạm Văn T không yêu cầu bà Lê Thị Hữu H cấp dưỡng nuôi trẻ Phạm Thị Mỹ H2.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Văn T đồng ý giao con chung là trẻ Phạm Thị Mỹ L, sinh ngày 18/5/2023 cho bà Lê Thị Hữu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Phạm Văn T tự nguyện cấp dưỡng nuôi trẻ Phạm Thị Mỹ L, mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi trẻ Phạm Thị Mỹ L đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày 05 đến ngày 10 (ngày dương lịch) hàng tháng.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi mọi mặt của con, Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.”
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 24/4/2024, nguyên đơn bà H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc giải quyết con chung, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng giao trẻ Phạm Thị Mỹ H2, sinh ngày 07/5/2019 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng.
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các bên đương sự không trình bày hoặc cung cấp các tài liệu, chứng cứ bổ sung.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Cấp sơ thẩm cho rằng việc nguyên đơn nộp vi bằng có nội dung hỏi ý kiến trẻ muốn ở với ai là không phù hợp, và sơ thẩm áp dụng án lệ số 54/2022 để giao trẻ Mỹ Hoa cho ông T nuôi dưỡng là không có cơ sở, vì không tương đồng, không đảm bảo Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Bởi lẽ ông T là người dẫn cháu Mỹ H2 đi, không có cơ sở để xác định ông T có điều kiện nuôi con tốt hơn bà H. Bà H có công việc buôn bán tại nhà, đáp ứng được các điều kiện nuôi cả hai con. Thời gian ông T nuôi trẻ Mỹ Hoa luôn viện cớ thời tiết, trẻ đang bệnh để không cho bà H2 thăm con. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà H, giao 2 con chung cho bà H nuôi dưỡng.
Nguyên đơn bà H trình bày bổ sung: Quá trình chung sống hai bên xảy ra mâu thuẫn, khi căng thẳng ông T có đánh bà, bản thân ông T và gia đình ông chỉ muốn có con trai nên khi bà sinh trẻ thứ hai là trẻ Mỹ Liên được hai ngày thì ông T dẫn bé lớn về sống chung với ông bà nội tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng ly thân cho đến nay. Bà và trẻ Mỹ L sống gần nhà ông bà ngoại tại Thị trấn B, huyện B, tỉnh An Giang. Thời gian ly thân, bà có lên thăm con ở trường mầm non tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được 05 lần và 01 lần đến nhà. Tuy nhiên, ông T thường viện lý do thời tiết và con bệnh để hạn chế việc thăm con của bà, trẻ Mỹ H2 cũng muốn ở với mẹ. Do vậy bà yêu cầu được nuôi cả hai con chung, đề nghị ông T giao trẻ Mỹ Hoa cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại bà có công việc buôn bán tại nhà, có đủ điều kiện kinh tế, và có sự hỗ trợ của gia đình để đảm bảo nuôi con tốt, đồng thời tạo điều kiện cho ông T thăm nom chăm sóc con chung.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Việc bà H cho rằng ông T chỉ muốn có con trai là không đúng, thể hiện việc hơn một năm ông T đã nuôi trẻ Mỹ Hoa và tha thiết được tiếp tục nuôi trẻ nhằm có điều kiện tốt nhất cho trẻ được sống và học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bản thân ông T vì thương con, và sợ bà H không cho ông nuôi con nên thời gian qua, từ tháng 5/2023 đến nay ông không chủ động dẫn trẻ Mỹ H2 về An Giang thăm mẹ, tuy nhiên, mẹ con vẫn thường nói chuyện qua zalo điện thoại có hình ảnh. Khi bà H lên thăm con thì ông T và gia đình luôn tạo điều kiện. Việc bà H cho rằng khi lên thăm con thì thấy con ở trong phòng tối nhưng thực tế trích xuất camera thể hiện không gian sống mọi người trong gia đình ông T đông đủ và sinh hoạt bình thường. Việc bà H lập vi bằng tại trường mầm non ghi ý kiến trẻ H2 khi trẻ mới 5 tuổi để làm bằng chứng làm ảnh hưởng tinh thần trẻ và vi phạm Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ qui định về những trường hợp không được lập vi bằng. Tại phiên tòa ông T cũng đã nhận thức và cam kết sẽ tạo mọi điều kiện để các con được qua lại, và cũng muốn hàn gắn nếu bà H đồng ý. Về điều kiện thì ông T có việc làm và thu nhập ổn định, được địa phương xác nhận có phẩm chất đạo đức tốt, việc nuôi trẻ Mỹ Hoa đảm bảo cho trẻ được sống và học trong môi trường tốt. Đề nghị áp dụng Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về áp dụng pháp luật giải quyết điều kiện nuôi con khi ly hôn, nhằm đảm bảo sự ổn định, hạn chế xáo trộn môi trường sống của trẻ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cho ông T được tiếp tục nuôi trẻ Mỹ Hoa.
Bị đơn là ông T trình bày bổ sung: Do trước đây hai bên mâu thuẫn, bản thân ông có tạo điều kiện cho bà H thăm nhưng cũng lo sức khỏe cho trẻ khi thời tiết không tốt. Nay ông cam kết nếu được tiếp tục nuôi con ông sẽ tạo mọi điều kiện để bà H đến thăm nom chăm sóc con chung, hoặc ông sẽ dẫn con về An Giang thăm mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Việc ban hành, tống đạt thông báo thụ lý phúc thẩm, quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, việc tuân theo pháp luật của đương sự, Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong giai đoạn phúc thẩm thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Căn cứ tài liệu, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, giao trẻ Mỹ H2 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng. Giao trẻ Mỹ L cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T cấp dưỡng nuôi trẻ Mỹ L1 mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng), từ khi án có hiệu lực cho đến khi trẻ L1 đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe sự trình bày của các đương sự và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức:
Xét việc kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên được cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết.
[2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Các đương sự không kháng cáo nên cấp phúc thẩm không xem xét, giải quyết.
[2.2] Về con chung:
Có 02 trẻ là Phạm Thị Mỹ H2, sinh ngày 07/5/2019 và Phạm Thị Mỹ L, sinh ngày 18/5/2023. Bà H kháng cáo yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi hai con chung, hiện bà H2 đang nuôi trẻ Mỹ Liên, nay bà H2 yêu cầu được nuôi thêm trẻ Phạm Thị Mỹ H2 (do ông T đang nuôi dưỡng). Ông T yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm, để ông tiếp tục nuôi trẻ Mỹ Hoa.
Xét, nguyện vọng được nuôi con của hai bên đều xuất phát từ tình thương và trách nhiệm đối với các con. Ông T và bà H đều có việc làm, thu nhập ổn định cũng như có đủ các điều kiện vật chất cần thiết khác để bảo đảm cho sự phát triển bình thường của con. Tuy nhiên, giải quyết việc giao con cho bên trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.
Nhận thấy việc vợ chồng mâu thuẫn, dẫn đến ly thân giữa hai bên bắt đầu từ tháng 5/2023, ông T và trẻ Mỹ H2 về sống cùng nhà cha mẹ ruột tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên có trao đổi và cho bà H gặp con qua zalo điện thoại, bà H lên thăm con tại trường và tại nhà. Tuy nhiên bà H cho rằng ông T hạn chế không cho bà dẫn con đi chơi hoặc về An Giang với bà. Điều này cho thấy ông T chưa đảm bảo duy trì mối quan hệ với người không trực tiếp nuôi con là bà H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử giải thích về quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con và đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, trên hết là đảm bảo tốt nhất quyền lợi mọi mặt cho trẻ. Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ; Sự quan tâm của cha mẹ đối với con. Phía bà H và ông T đều xác định sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất để bên không nuôi con được thăm nom chăm sóc con chung. Tuy nhiên hai bên vẫn giữ nguyên ý kiến được nuôi con. Bà H vẫn và có nguyện vọng yêu cầu được nuôi cả hai con chung. Ông T vẫn tha thiết xin được tiếp tục nuôi trẻ M, thể hiện qua việc mong muốn hàn gắn để cùng lo cho con. Tuy nhiên bà H không đồng ý.
Nhận thấy hiện nay bà H đang nuôi nuôi trẻ M, sinh tháng 5/2023 vừa hơn 01 tuổi, trẻ Mỹ H2 sinh tháng 5/2019 hiện được hơn 5 tuổi, đang sống cùng ông T và gia đình bên nội. Bản án sơ thẩm áp dụng án lệ số 54/2022 để xem xét, giải quyết trong trường hợp này là không phù hợp với tình huống án lệ. Cấp sơ thẩm căn cứ vào tình hình thực tế và áp dụng Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 để mỗi bên tiếp tục nuôi một trẻ nhằm hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, môi trường học của trẻ, đảm bảo sự ổn định cho trẻ, cũng như tạo điều kiện cho hai bên cùng có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, là phù hợp. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm tuyên: “Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Văn T đồng ý giao con chung là trẻ Phạm Thị Mỹ L, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2023 cho bà Lê Thị Hữu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng” là chưa đúng, cần sửa câu chữ cho phù hợp là “Giao trẻ Phạm Thị Mỹ L cho bà Lê Thị Hữu H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T cấp dưỡng nuôi trẻ Mỹ Liên 3.000.000đ/tháng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật”.
Việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung hai bên đã được Hội đồng xét xử giải thích, do đó hai bên phải đảm bảo quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
Vì quyền lợi mọi mặt của con, Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo qui định
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm, tiếp tục giao trẻ H2 cho ông T được trực tiếp chăm sóc, giáo dục.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung,
các đương sự không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà H phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 55, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Điều 27 và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Luật Thi hành án dân sự hiện hành.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Hữu H yêu cầu nuôi 2 con chung. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Phạm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Phạm Thị Mỹ H2, sinh ngày 07/5/2019.
Bà Lê Thị Hữu H trực tiếp nuôi trẻ Phạm Thị Mỹ L, sinh ngày 18/5/2023.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi trẻ Mỹ Liên mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng). Bắt đầu từ ngày án có hiệu lực pháp luật đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật, thời gian cấp dưỡng từ ngày 5 đến ngày 10 hàng tháng. Việc cấp dưỡng được hai bên tự thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành.
Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích mọi mặt của con, trong trường hợp có yêu cầu của các bên đương sự theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con.
2. Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Lê Thị Hữu H chịu, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0038241 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ.
3. Các quyết định khác
của Bản án sơ thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Hà |
Bản án số 125/2024/HNGĐ-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 125/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Le Thi Huu H và ông Pham Van T
