TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2024/DS-ST
Ngày 25 tháng 9 năm 2024
Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Hoa Hường và ông Nguyễn Văn Bằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Minh Tư, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXX-ST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 236/2024/QÐST –DS ngày 11/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Châu Thanh D, sinh năm 1971 và bà Trần Thị T, sinh năm 1973; cùng địa chỉ: tổ C, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Thanh H (Chà L), sinh năm 1977 và bà Lê Ngọc T1 (T2), sinh năm 1979; cùng địa chỉ: tổ C, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang;
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông H: Luật sư Nguyễn Hữu Đ, Luật sư Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. Địa chỉ: 4, L, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1988 và bà Lê Thị L1, sinh năm 1989; cùng địa chỉ: tổ C, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; ông Ú, bà L1 (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Lê Văn M, sinh năm 1935, nơi cư trú: ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang (có đơn vắng mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn M: Luật sư Nguyễn Hữu Đ, Luật sư Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. Địa chỉ: 4, L, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Những người tham gia tố tụng khác:
- - Ông Lê Văn C, sinh năm 1970, nơi cư trú: tổ C, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Ông Lê Văn U, sinh năm 1967, nơi cư trú: tổ C, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông D, bà T trình bày: Năm 2018, nguyên đơn có nhận chuyển nhượng phần đất với diện tích 4,5m x dài 15,7m; trên đất có 01 căn nhà sàn nóng đá vách tole mái tole của Ú, L1 với giá 100.000.000 đồng; Đất tọa lạc ấp M, xã V, thành phố C. Do đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử đụng đất nên các bên chỉ làm giấy tay, có cha ruột bà L1, tên Lê Văn U và ông Lê Văn C (ở sát vách nhà bà L1) làm chứng ký tên vào tờ sang nhượng nhà đất. Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã giao đủ tiền cho Ú, L1 và Ú, L1 đã giao nhà, đất cho nguyên đơn trực tiếp quản lý. Đến năm 2020, nguyên đơn làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đo đạc cấp giấy thì phát sinh tranh chấp ranh đất với ông H, bà T1. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận phần đất với diện tích 70,4m² được thể hiện tại các điểm 9,10,12,14 theo Bản trích đo hiện trạng do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 24/8/2023 cho nguyên đơn.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn buộc nguyên đơn tháo dỡ một phần căn nhà để trả lại phần đất với diện tích đất 22,4m² tại các điểm 12,14,16,11 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 24/8/2023 của Công ty TNHH Đ1 nguyên đơn không chấp nhận. Bởi lẽ, khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng Ú, L1 thì trên đất đã có hình thành căn nhà và từ khi nhận chuyển nhượng, căn nhà không thay đổi kết cấu.
Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn cung cấp cho Tòa án: Tờ sang nhượng nhà đất giữa ông Ú, bà L1 và ông D, bà T ngày 29/01/2018; Thông báo về việc không hòa giải thành của UBND xã V Ngày 28/8/2020; Tờ tường trình của ông Lê Văn U (cha của Lê Thị L1) ngày 24/6/2021; Tờ tường trình của ông Lê Văn C.
Theo lời khai của bị đơn ông H, bà T1 trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi các lý do sau đây: Nguồn gốc nhà đất mà nguyên đơn khởi kiện tranh chấp là của ông Lê Văn M (cha ruột bà T1) khai hoang trước năm 1945. Đến ngày 10/5/2002 ông M cho bà T1 phần đất có diện tích từ mé kinh đến phía sau (diện tích ngang 4,5m, dài 40m), khi cho có làm giấy tay. Quá trình quản lý, sử dụng đến năm 2011 bà T1, ông H có bán lại cho cháu ruột tên Lê Thị L1 có diện tích ngang 4,5m, dài 15,7m với giá 45.000.000 đồng; khi bán có làm giấy tay. Ông H, bà T1 đã nhận đủ tiền. Tuy nhiên, quá trình sử dụng vợ chồng L1 và Ú có cất nhà, mái nhà có lấn qua phần đất của H, T1. Đến năm 2018, Loan Úl chuyển nhượng nhà đất cho bà T, ông D kể cả phần đất mà Ú1, L1 lấn chiếm của bị đơn. Bị đơn ông H, bà T1 yêu cầu phản tố buộc ông D, bà T tháo dỡ một phần căn nhà trả lại phần đất có diện tích 23,4m² được xác định tại các điểm 5, 8, 10, 6 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/3/2022 của Công ty TNHH Đ1 và cũng chính là điểm 12,14,16,11 với diện tích 22,4m² của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 24/8/2023 của Công ty TNHH Đ1 lập.
Để chứng minh cho yêu cầu phản tổ, bị đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ: Tờ thỏa thuận của ông Lê Văn M với bà Lê Ngọc T1 về việc ông M cho đất con ruột (Than) ngày 10/5/2002; Tờ sang nhượng đất nền nhà giữa bà Lê Ngọc T1 và ông Nguyễn Văn Ú năm 2011.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Ú và bà Lê Thị L1 trình bày: Ngày 29/01/2018 vợ chồng (Ú, L1) có bán căn nhà gỗ gắn liền với đất có diện tích ngang 4,5m, dài 15,7m, với giá 100.000.000 đồng cho ông D, bà T; đã nhận đủ tiền. Khi bán nhà, đất có cha Lê Văn U và Lê Văn C làm chứng. Phần đất có nguồn gốc của ông nội Lê Văn M cho cô ruột Lê Ngọc T1; bà T1 chuyển nhượng lại cho Ú, L1 và trả đủ tiền, nhận tài sản. Sau khi mua thì Ú, L1 có cất nhà trên đất để ở khoảng 10 năm. Do cuộc sống ở quê khó khăn nên vợ chồng đã đi làm ăn xa từ năm 2018 đến nay, ít khi về địa phương. Ú, L1 không có tranh chấp gì với ông D, bà T và yêu cầu Tòa án công nhận phần đất đã bán cho ông D, bà T. Đồng thời tại văn bản ngày 22/7/2022 ông Ú tường trình về các trụ nóng đá như sau: 02 trụ nóng đá phía trước là do ông H, bà T1 cắm làm mốc ranh đầu kéo trở về sau là 15,7 m và Ú, L1 đã đo đạc, cắm thêm 02 trụ đá phía sau để làm ranh được ông H, bà T1 đồng ý, từ đó ông Ú, bà L1 cất nhà trên đất để ở từ năm 2012.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M trình bày: Ông là cha ruột của Lê Ngọc T1 và Lê Văn U; Lê Thị L1 là cháu nội của ông. Sự việc tranh chấp đất giữa ông D, bà T và bà T1, ông H thì ông biết và trình bày như sau: Nguồn gốc đất là của cha ông để lại cho ông quản lý, sử dụng. Sau đó, ông có cho con ruột là Lê Ngọc T1 phần đất có diện tích ngang 4,5 mét, dài 15,7 mét. Khi cho, T1 có cất nhà sát mé lộ để ở, ở được vài năm thì Than làm ăn thất bại nên có hỏi ông để bán cho cháu ruột là Lê Thị L1 (con ruột của Lê Văn U), ông đồng ý cho bán nhưng ông không biết rõ giá bao nhiêu tiền, thỏa thuận thanh toán ra sao, chỉ biết bán đất có diện tích ngang 4,5m, dài 15,7m. Sau khi bán thì T1 dỡ nhà theo chồng về H. Lúc này L1 cất nhà để ở từ đó đến khi L1 bán nhà, đất lại cho chủ mới (D, T) thì phát sinh tranh chấp.
Người làm chứng ông Lê Văn C (là cháu bà T1) cho biết: Ngày 29/01/2018 ông có chứng kiến Ú, L1 bán 01 căn nhà gỗ gắn liền với đất có diện tích ngang 4,5 mét, dài 15,7 mét, số tiền 100.000.000 đồng cho ông D, bà T là sự thật; yêu cầu Tòa án xem xét thấu tình đạt lý;
Người làm chứng ông Lê Văn U (cha của bà L1) trình bày: Ngày 29/01/2018 ông có chứng kiến Ú, L1 bán 01 căn nhà gỗ gắn liền với đất có diện tích ngang 4,5 mét, dài 15,7 mét, số tiền 100.000.000 đồng cho ông D, bà T là sự thật;
Vụ việc đã được Tòa án giải quyết bằng bản án sơ thẩm số 70/2022/DS-ST ngày 31/8/2022; đương sự kháng cáo; tại bản án phúc thẩm số 76/2023/DS-PT ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang giải quyết theo thủ tục sơ thẩm;
Vụ án được Tòa án giải quyết bằng bản án sơ thẩm số 78/2023/DS-ST ngày 30/9/2023; đương sự kháng cáo; tại bản án phúc thẩm số 52/2024/DS-PT ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Tòa án thu thập chứng cứ:
- - Tại bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 24/8/2022, thể hiện kết quả: Các điểm 12, 14, 9, 10 với diện tích 70,4m² là phần đất đo đạc do ông D, bà T chỉ, trong đó: các điểm 12, 14, 21, 24 = 59,9m² nằm ngoài hành lang giao thông; các điểm 10, 24, 21, 9 = 10,5m² là biên hành lang giao thông; Các điểm 5, 6, 11, 16, 12, 14 với diện tích 93,8m² là phần đất theo sự chỉ dẫn của ông Trần Thanh H, trong đó: 12, 14, 11, 16 = 22,4m² nằm ngoài hành lang giao thông; các điểm 5, 6, 11, 16 = 71,4m², trong đó 11, 16, 21, 25 = 38,1m² nằm ngoài biên hành lang giao thông.
- Các vật kiến trúc trên đất: Các điểm 13, 15, 7, 8 = 60,7m² là căn nhà gỗ do ông Châu Thanh D đang quản lý, trong đó các điểm 13, 15, 22, 23 có diện tích 56,0m² nằm ngoài biên hành lang giao thông; các điểm 23, 22, 7, 8 = 4,7m² thuộc biên hành lang giao thông.
- - Tại Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 24/8/2023, thể hiện phần đất mà nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận tại các điểm 9,16,14,12,11,10 có diện tích là 70,4m²; bị đơn ông Trần Thanh H yêu cầu phản tố buộc nguyên đơn trả đất tại các điểm 11,16,14,12 với diện tích là 22,4m².
- - Công văn số 763/UBND-NC ngày 02/3/2022 của UBND thành phố C phúc đáp: Phần đất có diện tích 60m² tại các điểm 10, 16, 17, 20 được quy hoạch là đất ở tại nông thôn; Đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại các Điều 100, Điều 101 Luật đất đai.
- - Công văn số 54/CNCĐ-KT ngày 28/01/2022 của Văn phòng Đ2 chi nhánh C1 phúc đáp: Căn cứ theo Bản trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 13/4/2021 của Văn phòng Đ2 chi nhánh C1 thì phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 20, tờ bản đố số 08 theo hệ thống VN2000 và không có thông tin trong cơ sở dữ liệu;
- - Định giá nhà, đất tranh chấp: Nhà có đơn giá 3.057.000 đồng/m², tỷ lệ sử dụng còn lại là 50%; đất có giá thị trường là 3.000.000 đồng/m².
Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa,
- - Chủ tọa công bố hồ sơ trích lục quá trình tranh chấp đất giữa các đương sự tại Ủy ban nhân dân xã V.
- - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; yêu cầu Tòa án xem xét cho nguyên đơn được sử dụng hành lang lộ giới để làm lối đi từ nhà ra lộ; yêu cầu Tòa án xử lý chi phí tố tụng theo quy định pháp luật, thống nhất kết quả đo đạc ngày 24/8/2023, kết quả định giá ngày 25/7/2024 và xác định đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
- - Bị đơn ông H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên yêu cầu phản tố; thống nhất kết quả đo đạc ngày 24/8/2023, kết quả định giá ngày 25/7/2024 và xác định đã cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Không thống nhất về nội dung đối với tài liệu chứng cứ do Tòa án công khai tại phiên tòa là biên bản làm việc ngày 14/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã V của bà Lê Ngọc T1.
- - Ông Nguyễn Hữu Đ, trình bày: Với tư cách là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M, thống nhất với quyết định của Tòa án về việc đưa ông M tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vì nguồn gốc đất tranh chấp giữa các đương sự là của ông M. Ông M xác định chỉ cho con gái là Lê Ngọc T1 diện tích đất từ mé lộ thẳng ra phía sau với chiều dài là 17,5m; việc nguyên đơn kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lớn hơn diện tích nhận chuyển nhượng là ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng H, T1. Đề nghị Hội đồng xem xét.
- Với tư cách là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trần Thanh H, ông Đ cho rằng cấp phúc thẩm có nhận định việc nguyên đơn đã rút lại đơn khởi kiện cần phải đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thay đổi địa vị tố tụng từ nguyên đơn chuyển sang bị đơn. Hơn nữa, nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất là không thuộc thẩm quyền giải quyết vụ của Tòa án. Ngoài ra, sau khi vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải và đưa vụ án ra xét xử nhưng phía bị đơn đưa ra ý kiến để hòa giải, bị đơn nhận giá trị bằng với giá thị trường mà Hội đồng định giá với số tiền là 67.200.000 đồng (3.000.000 đồng x 22.4m²) không yêu cầu nguyên đơn tháo dỡ nhà nhưng không được Thẩm phán tổ chức hòa giải. Về nội dung vụ án, xác định tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các bên là có xảy ra; ông H, bà T1 đã bán cho ông Ú, bà L1, diện tích đất ngang 4,5 mét x dài 15,7 mét, nhưng vị trí đất là trên mí lộ nhựa dài ra sau hậu đến khoản giữa căn nhà, cụ thể tại các điểm 5, 6, 16, 11 với diện tích 71,4m² theo bản trích đo hiện trạng do Công ty TNHH Đ1 ngày 24/8/2023. Do đó, việc ông H, bà T1 yêu cầu Tòa án buộc ông D, bà T tháo dỡ một phần căn nhà phía sau trả lại diện tích đất 22,4m² lấn chiếm tại các điểm 11, 16, 12, 14 theo bản trích đo hiện trạng do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 24/8/2023 là có cơ sở, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
- - Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát: Đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định. Bị đơn bà Lê Ngọc T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ú, bà L1, ông M và những người tham gia tố tụng khác đều có yêu cầu xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với hướng giải quyết vụ án: Căn cứ lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Thấy rằng, phần đất ông M tặng cho bà T1 ngang 4,5m, dài 15,7m đã được bà T1 - ông H chuyển nhượng lại ông Ú - bà L1. Sau đó ông Ú - bà L1 chuyển nhượng lại cho ông D - bà T. Các đương sự không thống nhất 02 mốc đầu nhưng căn cứ lời khai của Ú, L1 xác định 02 mốc ranh đầu tại vị trí 4,7 (bản vẽ năm 2021), 3,4 (bản vẽ năm 2022), 9,10 (bản vẽ năm 2023) là phù hợp với lời khai của nguyên đơn và cũng phù hợp với lời khai của ông H, bà T1 tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2023, biên bản đối chất ngày 10/7/2023 và cũng phù hợp với lời khai của ông M xác định diện tích đất cho bà T1 là ngang 4,5m dài 17,5m. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa các bên đều đã được thực hiện đầy đủ việc giao, nhận và sử dụng ổn định. Ủy ban nhân dân thành phố C cũng có Văn bản số 763/UBND-NC ngày 02/3/2022 xác định phần đất trên được quy hoạch là đất ở nông thôn, đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai. Do đó, việc nguyên đơn ông D, bà T yêu cầu Tòa án công nhận cho ông, bà được quyền sử dụng phần đất diện tích 70,4m² được thể hiện tại các điểm 9, 10, 12, 14 theo Bản trích đo hiện trạng do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 24/8/2023 là có căn cứ chấp nhận. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu nguyên đơn tháo dỡ một phần căn nhà trả lại phần đất có có diện tích diện tích diện tích 22,4m² là không có cơ sở chấp nhập. Đối với yêu cầu của D, bà T về việc được sử dụng phần đất hành lang lộ giới ngay trước phần đất tranh chấp nêu trên để làm lối đi trong quá trình sử dụng đất. Xét thấy theo quy định của pháp luật về đất đai, thì người có quyền sử dụng đất liền kề với phần đất hành lang lộ giới do Nhà nước quản lý, đương nhiên được khai thác, sử dụng để làm lối đi, không được xây dựng hay sử dụng vào mục đích khác khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Từ phân tích trên, căn cứ Điều 203 Luật đất đai năm 2013 (Điều 236 Luật đất đai năm 2024) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng,
- Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất; bị đơn có đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn tháo dỡ một phần căn nhà trả đất lấn chiếm. Xét, đây là tranh chấp phát sinh từ việc ai là chủ sử dụng đất và tranh chấp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã V; nguyên đơn, bị đơn cư trú tại xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; nên đủ điều kiện Tòa án thụ lý vụ án và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Lê Ngọc T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ú, bà L1, ông M và những người tham gia tố tụng khác đều có yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Về nội dung:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 70,4m² tại các điểm 9, 10, 12, 14 theo bản trích đo đạc do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 24/8/2023; đồng thời được sử dụng đất thuộc hành lang lộ giới (giao thông) do nhà nước quản lý. Nguồn gốc đất do nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ ông Ú, bà L1 vào năm 2018, có hợp đồng được viết tay.
Các đương sự, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ú, bà L1, ông M đều có lời khai thống nhất về nguồn gốc đất tranh chấp do ông Lê Văn M tặng cho bà T1; bà T1 chuyển nhượng cho L1, Ú; Loan Úl chuyển nhượng lại cho D, T và tất cả đương sự đều thống nhất về diện tích đất chuyển nhượng ngang 4,5m x dài 15,7m.
Nguyên đơn ông D, bà T thống nhất với ông Ú1, bà L1 về vị trí chuyển nhượng đất, hiện nay vẫn còn các mốc ranh trụ đá đã cấm tại các vị trí 9,10,12,14 theo bản gốc trích đo hiện trạng ngày 24/8/2023; 02 mốc ranh đầu khi ông Ú1, bà L1 nhận chuyển nhượng từ bà T1 đã có và từ 02 mốc đầu trở về sau với chiều dài 15,7m; trên đất đã có căn nhà do Út L2 xây dựng từ năm 2012 đến nay không sửa chữa mới. Riêng bị đơn không thống nhất 02 cột mốc đầu tại điểm 9,10 Bản gốc trích đo ngày 24/8/2023 như theo trình bày của nguyên đơn và người liên quan ông Ú1, bà L2 mà 02 cột mốc đầu ở vị trí mé lộ tại điểm 5,6 theo bản trích đo đạc do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 24/8/2023.
Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ hiện trạng đất tranh chấp, thấy rằng trên phần đất tranh chấp có căn nhà sàn, nóng đá, vách tole mái tole; từ lộ giới đi vào nhà có cây cầu đal và trên đất có tổng cộng 06 trụ (04 đá) và 02 trụ được đặt gạch ống làm trụ.
Tại phiên tòa, cũng như ý kiến của ông H trong quá trình tố tụng có lời khai xác định, 02 cột mốc đầu tại 5,6 (bản vẽ năm 2021); 1,2 (bản vẽ năm 2022), 5,6 (bản vẽ năm 2023) và 02 cột mốc cuối là gạch ống ở giữa căn nhà tại các điểm 11,16 (Bản vẽ năm 2023); 5,6 (Bản vẽ năm 2022) đều do ông H tự cắm sau khi các bên phát sinh tranh chấp. Riêng 02 mốc trụ đá tại điểm 4,7 (bản vẽ năm 2021); 3,4 (bản vẽ năm 2022); 9,10 (bản vẽ năm 2023) do ông M cắm khi cho đất bà T1 để làm ranh giới giữa hai hộ lân cận, không phải là 02 mốc ranh đầu kéo thẳng ra sau với chiều dài 17,5m như nguyên đơn và ông Ú1, bà L2 trình bày.
Xét thấy lời khai của ông H, bà T1 không đồng ý với mốc ranh đầu tại các điểm 4,7 (bản vẽ năm 2021); 3,4 (bản vẽ năm 2022); 9,10 (bản vẽ năm 2023); không thống nhất diện tích đất chuyển nhượng cho bà L2 và cũng không thống nhất hiện trạng căn nhà bà L2 xây dựng nhưng từ khi chuyển nhượng đất cho bà L2 và bà L2 xây dựng nhà ở trên đất từ năm 2012 thì ông H, bà T1 không có ý kiến tranh chấp và cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào thể hiện việc ông Ú1, bà L2 xây dựng nhà có lấn qua đất bị đơn. Trong khi đó nguyên đơn nhận chuyển nhượng đất từ ông Ú1, bà L2 và ông Ú1, bà L2 đều xác định 02 mốc đầu tại vị trí 9,10 (bản vẽ năm 2023) và chuyển nhượng toàn bộ diện tích căn nhà được xây dựng trên đất (1).
Bên cạnh đó, Tòa án trích lục từ Ủy ban nhân dân xã V hồ sơ tranh chấp đất từ năm 2018 giữa các đương sự, hồ sơ thụ lý tại Tòa án, cũng như lời trình bày của ông H tại phiên tòa cũng như ý kiến tranh chấp của ông M tại biên bản ngày 06/7/2018 ở Ủy ban nhân dân xã V thể hiện vị trí bị đơn tranh chấp đầu tiên là ở mé kinh trước nhà nguyên đơn quản lý. Tiếp theo, bị đơn thay đổi tranh chấp ở vị trí đất trước cửa nhà tại các điểm 5,6,9,10 (bản vẽ năm 2023) và bị đơn xác định không tranh chấp về vị trí mà nguyên đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích ngang 4,5m dài 15,7m do nguyên đơn nhận chuyển nhượng của bà L2 (BL số 262). Tiếp theo, bị đơn thay đổi vị trí tranh chấp, xác định tranh chấp đất tại các điểm 11,16,14,12 (bản vẽ năm 2023) là một phần căn nhà ở phía sau của nguyên đơn do nguyên đơn nhận chuyển nhượng của bà L2. Thấy rằng lời khai của bị đơn thay đổi liên tục, không nhất, mâu thuẫn với nhau về việc xác định vị trí đất tranh chấp với nguyên đơn (2).
Mặt khác, tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa công bố biên bản vào lúc 14 giờ ngày 14/8/2020 lời khai của bà Lê Ngọc T1 (Thang) với nội dung: “ ..tôi có sang nhượng cho cháu ruột tôi tên Lê Văn Ú2 và Lê Thị L1 diện tích đất ngang 4,5m dài 15,7m (bỏ lề đường vào khoảng 3m trở ra sau hiện nay còn nóng ranh)”. Tại phiên tòa, bị đơn ông H xác định đây không phải là lời khai của bà T1 vì bà T1 không biết chữ nhưng biên bản lại có ký tên, ghi tên và bà T1 không được Ủy ban nhân xã V mời làm việc. Thấy rằng, lời của bà T1 tại biên bản nêu trên là phù hợp với lời khai của ông H tại Biên bản ngày 26/10/2021 (BL số 262) với nội dung ông H không tranh chấp phần nhà đất mà nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông Ú2, bà L1 mà chỉ tranh chấp vị trí đất trước cửa nhà của nguyên đơn là vị trí “bỏ từ lề đường vào khoảng 3m” như lời khai của bà T1. Hơn nữa, lời khai của bà T1 còn phù hợp về 02 nóng đá là 02 cột mốc đầu để kéo trở về sau. Xét thấy, Biên bản này được lập tại Ủy ban nhân xã V, có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân xã V. Tuy bị đơn ông H không thừa nhận chữ ký của bà T1, không thừa nhận nội dung trong biên bản làm việc nhưng Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá các chứng cứ được phân tích tại mục (1), (2) và các nguồn chứng cứ khác được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án để xem xét, đánh giá toàn diện các nguồn chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở căn cứ để xác định vị trí, diện tích đất 70,4m² tại các điểm 9, 10, 12, 14 theo bản trích đo đạc do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 24/8/2023 trên đất có căn nhà là thuộc quyền sở hữu, sử dụng của nguyên đơn được xác lập quyền sở hữu thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như theo quy định tại Điều 223 Bộ Luật dân sự quy định.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 70,4m² trong đó có diện tích 10,5m² thuộc hành lang giao thông. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 157 Luật đất đai năm 2013 (khoản 3 Điều 210 Luật đất đai năm 2024) và điểm c khoản 4 Điều 56 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ và Công văn số 763/UBND-NC ngày 02/3/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C, xác định phần đất các đương sự tranh chấp được quy hoạch là đất ở nông thôn, đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại các Điều 100, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013.
Đối chiếu với quy định pháp luật được viện dẫn nêu trên, tuy phần đất tranh chấp có một phần diện tích nằm trong hành lang giao thông nhưng vẫn có thể được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông D, bà T được quyền sử dụng diện tích đất tại các điểm 9, 10, 12, 14 với diện tích 70,4m² theo bản trích đo đạc của Công ty Đ1 ngày 24/8/2023; ông Châu Thanh D và bà Trần Thị T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
- Đối với việc bà T, ông D yêu cầu được sử dụng phần đất là hành lang giao thông do nhà nước quản lý, ngay trước phần đất tranh chấp nêu trên để làm lối đi trong quá trình sử dụng đất. Xét thấy, theo quy định của pháp luật về đất đai, thì người có quyền sử dụng đất liền kề với phần đất hành lang lộ giới do Nhà nước quản lý, đương nhiên được khai thác, sử dụng để làm lối đi, không được xây dựng hay sử dụng vào mục đích khác khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C là phù hợp tại khoản 3 Điều 210 Luật đất đai năm 2024.
- Về yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu Tòa án buộc ông D, bà T tháo dỡ nhà trả lại diện đất với 22,4m² đã lấn tại các điểm 12, 14, 16, 11 theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty Đ1 lập ngày 24/8/2023.
Thấy rằng phần đất mà bị đơn yêu cầu phản tố, buộc nguyên đơn tháo dỡ nhà trả đất cho bị đơn là phần đất có nguồn gốc do nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ L1, Ú2 và được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Các vấn đề khác:
Tại phiên tòa Luật sư Nguyễn Hữu Đ cho rằng nguyên đơn đã rút lại đơn khởi kiện cần phải đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thay đổi địa vị tố tụng từ nguyên đơn chuyển sang bị đơn và vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thấy rằng trong quá trình tố tụng, Luật sư Đ có văn bản kiến nghị và được Thẩm phán trả lời bằng Thông báo số 35/TB.TA ngày 16/5/2024; tại phần [1] bản án có nhận định về thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét. Vụ án đã được Tòa án tiến hành hòa giải và đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử nên Thẩm phán không tiến hành tổ chức phiên hòa giải.
- Về chi phí tố tụng: Quá trình tố tụng nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng 4.900.000 đồng và nộp tạm ứng chi phí tố tụng, định giá trong lần thụ lý này là 1.500.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định tại Điều 157 và Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Buộc ông H, bà T1 cùng liên đới trả ông D, bà T số tiền 6.400.000 đồng.
Yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận, nên bị đơn phải tự chịu chi phí tố tụng đã nộp (đã nộp đủ).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
- Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận và phải chịu 300.000 đồng đối với yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 159, 175 Bộ luật dân sự; Các Điều 147, 157, 165, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Ông Châu Thanh D, bà Trần Thị T được quyền sử dụng diện tích đất 70,4m² được giới hạn tại các điểm 9, 10, 12, 14 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 24/8/2023; Ông Châu Thanh D, bà Trần Thị T có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định.
- - Ông Châu Thanh D, bà Trần Thị T được tiếp tục sử dụng phần diện tích là hành lang giao thông do nhà nước quản lý được thể hiện tại các điểm 5, 6, 9, 10 theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty Đ1 lập ngày 24/8/2023, để làm lối đi từ nhà ra đường chính.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Thanh H, bà Lê Ngọc T1 (T) về yêu cầu ông Châu Thanh D, bà Trần Thị T tháo dỡ nhà trả lại đất có diện tích 22,4m² được xác định tại các điểm 11, 16, 14, 12 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 24/8/2023 của Công ty TNHH Đ1.
(Kèm theo bản trích đo hiện trạng khu đất của Công ty TNHH Đ1 ngày 24/8/2023).
- Về chi phí tố tụng:
Ông Trần Thanh H, bà Lê Ngọc T1 (T) hoàn trả cho ông Châu Thanh D, bà Trần Thị T số tiền 6.400.000 (sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Hoàn trả số tiền 300.000 đồng cho ông Châu Thanh D, bà Trần Thị T theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004101 ngày 02/11/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc.
- - Buộc ông Trần Thanh H, bà Lê Ngọc T1 (T) phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận và phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận; khấu trừ với số tiền mà bị đơn nộp tạm ứng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002195 ngày 06/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bị đơn còn phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời gian kháng cáo của các đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Riêng thời hạn kháng cáo của ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L1 vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 125/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 125/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dung - Hải
