Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2023/HS-PT

Ngày: 18 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.

Các Thẩm phán: Ông Võ Trung Hiếu.

Ông Trương Vĩnh Hữu.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 107/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn B do có kháng cáo ngày 06 tháng 6 năm 2023 của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1981, tại Tiền Giang; Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S và bà Huỳnh Thị N; Vợ Hồ Thị L và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/10/2022.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B: Luật sư Nguyễn Thị Ngọc C - Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.

Vào ngày 17/10/2022, Nguyễn Văn B đang ở nhà thì nhận được điện thoại của một người nữ tên T (không rõ họ, địa chỉ cụ thể), kêu B mang ma túy đến nhà nghỉ “B2” tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang để cùng sử dụng. Sau đó, B điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63B3 – 652.50 mang theo 02 (hai) đoạn ống nhựa có ma túy (được quấn trong gói nylon màu trắng) cất giấu trong ống quần đang mặc đi đến nhà nghỉ B2. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi B vừa tới nhà nghỉ B2 thì bị lực lượng Công an kiểm tra và lập biên bản thu giữ, bắt quả tang. Tiếp tục khám xét nhà của B thì bị lực lượng Công an kiểm tra thu giữ thêm số ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy mà B đang cất giấu tại nhà để sử dụng.

Trước đó Nguyễn Văn B khai có mua ma túy của một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) khi người này đến quán café của B tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang với số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng. B phân nhỏ ma túy ra để trong nhiều đoạn ống nhựa rồi cất giấu nhiều nơi trong phòng ngủ để sử dụng dần. Sau đó, B lên mạng đặt mua 100 (một trăm) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (nỏ) với giá 1.000.000 (một triệu) đồng để sử dụng ma túy. B sử dụng hết 10 đoạn, còn lại 90 đoạn để trong thùng xốp và cất giấu trên gác trong phòng ngủ.

Vật chứng, đồ vật bị Cơ quan điều tra thu giữ:

  • Một bì thư màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Trần Chí T1. Bên trong có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M1.1) và 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng sọc tím được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M1.2).
  • 01 (một) xe và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô hai bánh biển số 63B3 – 652.50.
  • 01 (một) điện thoại di động mặt sau có chữ Samsung, màu xanh – đen
  • 01 (một) gói ny lon màu trắng có viền màu đỏ, bên trong không chứa gì.
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 1) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng sọc tím được hàn kín, đều chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M2.1) và 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng sọc tím được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M2.2).
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 2) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 03 (ba) đoạn ống nhựa màu trắng sọc cam được hàn kín, đều chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M3).
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 3) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 24 (hai mươi bốn) đoạn ống nhựa màu trắng sọc tím được hàn kín, đều chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M4.1) và 10 (mười) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M4.2).
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 4) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M5).
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 5) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M6).
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 6) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M7).
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 7) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M8).
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 8) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M9).
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 9) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 03 (ba) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M10).
  • Một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu số 10) có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn B, Hồ Thị L. Bên trong có 12 (mười hai) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M11.1); 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M11.2); 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng sọc xanh được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M11.3); và 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng sọc tím được hàn kín, chứa nhiều tinh thể màu trắng (ký hiệu M11.4).
  • 90 (chín mươi) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (nỏ).
  • 03 (ba) cân tiểu ly.
  • 02 (hai) khẩu trang màu xanh.
  • 01 (một) thiệp mời màu đỏ.
  • 01 (một) hộp nhựa màu trắng .
  • 01 (một) thùng bằng giấy hình vuông.
  • 01 (một) hộp nhựa màu trắng, hình tròn.
  • 01 (một) cái ấm nước.
  • 01 (một) cái thùng bằng xốp hình chữ nhật.

Tại Kết luận giám định số 108/KL-KTHS ngày 20/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

  • Gói 1: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,2719 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu ký hiệu M1.1 có khối lượng 0,1088 gam; mẫu ký hiệu M1.2 có khối lượng 0,1631 gam).
  • Gói 2 (ký hiệu số 1): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,2357 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu ký hiệu M2.1 có khối lượng 0,1488 gam; mẫu ký hiệu M2.2 có khối lượng 0,0869 gam).
  • Gói 3 (ký hiệu số 2): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,4965 gam, loại Methamphetamine.
  • Gói 4 (ký hiệu số 3): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 6,3919 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu ký hiệu M4.1 có khối lượng 3,9670 gam; mẫu ký hiệu M4.2 có khối lượng 2,4249 gam).
  • Gói 5 (ký hiệu số 4): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 1,4498 gam, loại Methamphetamine.
  • Gói 6 (ký hiệu số 5): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,0335 gam, loại Ketamine.
  • Gói 7 (ký hiệu số 6): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,2370 gam, loại Methamphetamine.
  • Gói 8 (ký hiệu số 7): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 9,6667 gam, loại Methamphetamine.
  • Gói 9 (ký hiệu số 8): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,0315 gam, loại Methamphetamine.
  • Gói 10 (ký hiệu số 9): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,8059 gam, loại Methamphetamine.
  • Gói 11 (ký hiệu số 10): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 2,6609 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu ký hiệu M11.1 có khối lượng 2,0312 gam; mẫu ký hiệu M11.2 có khối lượng 0,3076 gam; mẫu ký hiệu M11.3 có khối lượng 0,1635 gam; và mẫu ký hiệu M11.4 có khối lượng 0,1586 gam).

Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng là 22,2813 gam (trong đó loại Methamphetamine là: 22,2478 gam, loại Ketamine là 0,0335 gam).

Kết quả giám định có các loại ma túy Methamphetamine có khối lượng là 22,2478 gam và Ketamine là 0,0335 gam thuộc trường hợp các chất ma túy có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất theo quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ khoản 3 Điều 5 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, tỷ lệ phần trăm khối lượng của các chất ma túy như sau:

+ Tỷ lệ phần trăm khối lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu Methamphetamine được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự:

(22,2478 gam/30 gam)*100=74,1593%.

+ Tỷ lệ phần trăm khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với ma túy thể rắn được quy định tại điểm e khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự: (0,0335 gam/100 gam)*100=0,0335%.

Cộng tỷ lệ phần trăm khối lượng Methamphetamine và Ketamine với nhau: 74,1593%.+0,0335%.=74,1928<100%.

Do tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy dưới mức tối thiểu theo khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 74,1928<100% nên hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn B thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Như vậy, tổng khối lượng ma túy mà Nguyễn Văn B tàng trữ trái phép là 22,2813 (hai mươi hai phẩy hai tám một ba) gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 06 năm tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/10/2022.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 254; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 05 năm 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/10/2022.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung bị cáo Nguyễn Văn B phải chấp hành là 11 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/10/2022.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 06 tháng 6 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn B có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo rất ăn năn hối hận đối với hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện C.

Luật sư bào chữa bảo vệ cho bị cáo phát biểu: Thống nhất với tội danh và điều luật mà cấp sơ thẩm đã xét xử. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, hiện mẹ già lớn tuổi và có con nhỏ nên kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã nêu, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đầy đủ cơ sở xác định: Vào ngày 17/10/2022, tại xã T và xã T huyện C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có tổng khối lượng là 22,2813 gam (trong đó loại Methamphetamine là: 22,2478 gam, loại Ketamine là 0,0335 gam) để nhằm mục đích sử dụng và tàng trữ 90 dụng cụ (đoạn ống thuỷ tinh được uốn cong một đầu, nỏ) dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 và điểm đ khoản 2 Điều 254 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bởi lẽ, bị cáo vẫn biết được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm vì đây là một tệ nạn gây ra tác hại nhiều mặt cho toàn xã hội, đồng thời cũng là nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh ra rất nhiều loại tội phạm và lây ra các căn bệnh nguy hiểm khác, đồng thời còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tương lai, nòi giống. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Cho nên phải được xử lý nghiêm khắc mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi do bị cáo thực hiện, cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ xử phạt bị cáo mức án như trên là tương xứng, không nặng. Bởi lẽ, cùng một lúc bị cáo phạm phải hai tội rất nghiêm trọng, hơn nữa tại cấp phúc thẩm bị cáo không bổ sung thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Xét ý kiến và đề nghị của vị Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Xét lời đề nghị của Luật sư Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”“Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm đ khoản 2 Điều 254; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chấp hành là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 17/10/2022.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND huyện C;
  • - VKSND huyện C;
  • - Công an huyện C;
  • - THADS huyện C;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Mai Văn Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2023/HS-PT ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 125/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 17/10/2022, tại xã T và xã T huyện C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có tổng khối lượng là 22,2813 gam để nhằm mục đích sử dụng và tàng trữ 90 dụng cụ (đoạn ống thuỷ tinh được uốn cong một đầu, nỏ) dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Tòa án cấp phúc thẩm xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger