Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25 - 12 - 2023

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Mai Thị Viện Bà Nguyễn Thị Hương

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:

Bà Lữ Thị Phương Q - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 97/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 76 /2023/QÐST-HNGĐ ngày 08/12/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm: 1991,vắng mặt.
  2. Địa chỉ:Thôn V, xã H, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Bị đơn: Chị Lê Thị K, sinh năm: 1994, vắng mặt.
  4. Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã H, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 11/8/2023, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Đình H trình bày:

  1. Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/11/2015 tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Tháng 8/2018, anh đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sau khi anh đi Đài Loan vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn do khoảng cách xa xôi vợ chồng ít quan tâm nhau, không tin tưởng nhau. Đến tháng 9/2022, anh về Việt Nam thăm nhà cũng muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tháng 10/2022 anh quay lại Đài Loan. Đến tháng tháng 11/2022, anh chấm dứt hợp đồng, anh về Việt Nam để chăm sóc vợ con. Tuy nhiên, giữa anh và chị K không còn tình cảm và tin tưởng nhau. Cho dù vợ chồng anh cố gắng hàn gắn tình cảm, hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả.

Khoảng tháng 2/2023, chị K ra Hà Nội học tiếng Nhật, chị K ít về thăm con, có về thăm con thời gian cũng rất ngắn, chị K không ở nhà anh mà về nhà bố mẹ đẻ chị K. Tháng 8/2023, chị K đi Nhật Bản và cắt đứt liên lạc với anh. Vợ chồng anh sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Anh không biết địa chỉ nơi ở và nơi làm việc cụ thể của chị K bên Nhật Bản.

Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Lê Thị K.

  1. Về con : Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 12/9/2016. Ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu N, không yêu cầu chị K cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
  2. Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Anh H trình bày không biết địa chỉ cụ thể của chị Lê Thị K tại Nhật Bản nên không thể cung cấp cho Tòa án. Chị K vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Lê Ngọc M và bà Lê Thị H1, địa chỉ thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của chị K từ ông M, bà H1.

* Tại các biên bản lấy lời khai, ông Lê Ngọc M và bà Lê Thị H1 trình bày:

Ông M và bà H1 là bố mẹ đẻ của chị Lê Thị K. Anh Nguyễn Đình H là chồng chị K và là con rể của ông, bà. Năm 2015, anh H và chị K kết hôn với nhau. Sau khi kết hôn vợ chồng anh H, chị K sống hạnh phúc. Từ khi anh H đi Đài Loan vợ chồng chị K bắt đầu mâu thuẫn, giữa hai vợ chồng thường cãi nhau. Đến tháng 7 năm 2023, chị K đi Nhật Bản thì anh H nộp đơn khởi kiện ly hôn chị K. Ông, bà không biết địa chỉ cụ thể của chị K ở Nhật Bản nên không thể cung cấp cho Tòa án nhưng ông bà vẫn thường xuyên liên lạc với chị K nên ông bà đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho chị K. Anh H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn chị K, ông bà cũng biết sự việc. Ông bà thông tin cho chị K về việc anh H xin ly hôn thì chị K cũng đồng ý ly hôn. Vợ chồng anh H, chị K có một con chung là cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 12/9/2016. Ly hôn anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu N, ông bà và chị K đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng anh H, chị K có tài sản chung nhưng khi nào chị K về thì giải quyết bằng vụ án khác.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Đình H, xử cho anh H được ly hôn chị K. Về con: Giao cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 12/9/2016 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình. Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về thẩm quyền của Tòa án:

      Anh Nguyễn Đình H là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là chị Lê Thị K đăng ký hộ khẩu tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống tại Nhật Bản. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

    2. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

      Anh H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị K ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của chị K tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng ông Lê Ngọc M và bà Lê Thị H1 là bố mẹ đẻ của chị K trình bày không biết địa chỉ của chị K ở Nhật Bản. Tuy chị K thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của chị hiện nay ở nước ngoài. Ông Lê Ngọc M và bà Lê Thị H1 vẫn thường xuyên liên lạc với chị K nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho chị K.Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

    3. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Đình H có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là chị Lê Thị K mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. Về nội dung:
    1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Đình H và chị Lê Thị K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.

      Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, anh H đều trình bày vợ chồng anh mâu thuẫn nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không liên hệ với nhau, anh H không có địa chỉ của chị K tại

Nhật Bản nên không cung cấp địa chỉ của chị K tại Nhật Bản cho Tòa án được. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho anh H được ly hôn chị K.

  1. Về con: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 12/9/2016. Cháu N đang ở với anh H. Anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nguyện vọng của cháu N xin được ở với bố. Xét thấy nguyện vọng của anh H xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì hiện nay chị K đang lao động tại Nhật Bản không thể trực tiếp nuôi con được. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, cần giao cháu N cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh H tự nguyện không yêu cầu chị K cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của anh H nên chấp nhận. Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.
  2. Về tài sản, công nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Chị K không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu chị Kính yêu c thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
  1. Về án phí: Anh H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp.
  2. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Đình H.
    • - Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Đình H được ly hôn chị Lê Thị K.
    • - Về con: Công nhận cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 12/9/2016 là con chung của anh Nguyễn Đình H và chị Lê Thị K. Giao cháu N cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
    • Chị Lê Thị K có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    • - Về tài sản: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
  1. Về án phí: Anh Nguyễn Đình H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp theo Biên lai thu số 0006635 ngày 05/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
  2. Quyền kháng cáo:

    Anh Nguyễn Đình H, chị Lê Thị K có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

Mai Thị Viện

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoằng Quang, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ HC-TP; - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tòa GD & NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 125/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger