|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1247/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-8-2024 V/v “ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Lộc;
- Bà Nguyễn Thị Thanh Dân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 935/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 722/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Phương V T, sinh năm 19xx;
Địa chỉ: C03, chung cư H, phường H, thành phố B, tỉnh Đ. (có yêu cầu vắng mặt)
-
Bị đơn: Bà Đào N T, sinh năm 19xx;
Địa chỉ: số 19, Đường số 1, phường B, quận B, Thành phố H. (có yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 21/5/2024; Bản tự khai và Đơn xin vắng mặt ngày 31/7/2024, nguyên đơn Ông Phương V T trình bày:
Ông và Bà Đào N T chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 04/4/2018. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Ông T đã nhiều lần nói chuyện với bà T nhằm tìm tiếng nói chung, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được nên cả hai đã ly thân, không còn sống chung với nhau từ năm 2022; tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, Ông T yêu cầu được ly hôn với bà T .
Về con chung: Ông T khai vợ chồng có 01 (một) con chung tên Phương H T, sinh ngày 19/7/2017; khi ly hôn Ông T đề nghị giao con chung cho bà T nuôi dưỡng; ông không cấp dưỡng để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, tại Bản tự khai ngày 07/8/2024 bị đơn Bà Đào N T trình bày: Thống nhất với Ông T về nguyên nhân và điều kiện kết hôn của vợ chồng; thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung nên đã ly thân, không sống chung với nhau từ năm 2019.
Về con chung: bà T khai vợ chồng có 01 (một) con chung tên Phương H T, sinh ngày 19/7/20xx; khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con; không yêu cầu Ông T cấp dưỡng để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn và bị đơn cùng có yêu cầu vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu quan điểm: Tòa án đã thực hiện đúng quy định về quá trình thụ lý và giải quyết vụ án; tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục và trình tự phiên tòa quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ông Phương V T có đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn Bà Đào N T; bị đơn hiện cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thủ tục tố tụng: Ông T và bà T cùng có Đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt Ông T và bà T.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phương V T và Bà Đào N T kết hôn, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 04/4/2018 nên có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa Ông T và bà T là hợp pháp;
Xét, Ông T và bà T trình bày thống nhất quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về mọi mặt, cả hai đã ly thân từ năm 2019 cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của Ông T và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó cần chấp nhận cho Ông T được ly hôn với bà T, điều này phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông T và bà T khai thống nhất vợ chồng có 01 (một) con chung tên Phương H T, sinh ngày 19/7/2017;
Xét, Ông T có đề nghị giao con chung cho bà T nuôi dưỡng trong khi bà T có yêu cầu được nuôi con chung do đó cần chấp nhận và giao con chung là Phương H T, sinh ngày 19/7/2017 cho bà T nuôi dưỡng;
Bà T không có yêu cầu về cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Về án phí:
- Ông Phương V T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Phương V T .
-
Về quan hệ hôn nhân: Ông Phương V T được ly hôn với Bà Đào N T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 04/4/2018 do Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân cấp không còn giá trị.
-
Về con chung: bà T được nuôi dưỡng con chung là Phương H T, sinh ngày 19/7/2017; Ông T không phải cấp dưỡng để nuôi con.
Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà T khai thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Ông Phương V T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0017109 ngày 10/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; Ông T đã nộp đủ án phí.
- Nguyên đơn, bị đơn (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Thái |
Bản án số 1247/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1247/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
