Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1246/2024/HC-PT

Ngày: 10 - 12 - 2024

V/v khiếu kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính trong quản lý nhà
nước về nhà đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 700/2024/TLPT-HC ngày 19 tháng 8 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà Nước về quản lý nhà đất”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 09/2024/HC-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6893/2024/QĐPT ngày 08 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Lý T, sinh năm 1989; Cư trú tại: Hẻm X, khóm B, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1966; Cư trú tại: Số A đường L, Khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người bị kiện:

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C.
  2. Ủy ban nhân dân thành phố C.

Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Tứ H, chức vụ Phó Chủ tịch.

Địa chỉ: Số G đường N, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND thành phố C:

  1. Ông Lê Quốc T1, sinh năm 1977; Cư trú tại khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  2. Ông Trương Quốc S, cư trú tại số: Số D đường N, khóm D, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Sở Xây dựng tỉnh C; Địa chỉ: Số B đường T, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  2. Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Cà Mau;

Người đại diện hợp pháp: Bà Đặng Mộng K, chuyên viên Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Cà Mau. Địa chỉ: Lô C T, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người kháng cáo: Do có kháng cáo của người khởi kiện ông Lý T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện trình bày như sau:

Phần đất của ông Lý T nằm trong Dự án Khu đô thị Trung tâm hành chính - chính trị tỉnh C, nên ngày 26/12/2008 Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành quyết định số: 1002/QĐ-UBND thu hồi phần đất của ông Lý T, số tiền hổ trợ, bồi thường là 86.825.685 đồng, nhưng không xem xét việc tái định cư cho ông T. Ngày 13/02/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Công văn số 278/UBND-NĐ về việc trả lời đơn yêu cầu của ông T với nội dung: Không có cơ sở xem xét giải quyết về việc ông T yêu cầu mua nền tái định cư. Ngày 10/06/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành quyết định số: 2007/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần đầu và không chấp nhận khiếu nại của ông T. Ngày 27/03/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C ban hành quyết định số: 559/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần hai và không chấp nhận khiếu nại của ông T, giữ nguyên quyết định số: 2007/QĐ-UBND và giao cho Uỷ ban nhân dân hướng dẫn ông Lý T cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan trình Hội đồng thẩm định xét duyệt, bố trí tái định cư tỉnh xem xét theo thẩm quyền. Nhưng sau đó, UBND thành phố C cung cấp hồ sơ không đúng, dẫn đến ông T không mua được nền nhà tái định cư. Nay ông Lý T yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuyên bố hành vi của Ủy ban nhân dân thành phố C cung cấp hồ sơ của ông Lý T không đúng, dẫn đến ông T không mua được nền nhà tái định cư là trái pháp luật.

Hủy Công văn số: 278/UBND-NĐ ngày 13/02/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc trả lời nội dung đơn yêu cầu của ông Lý T.

Chủ tịch UBND thành phố C trình bày tại Công văn số: 133/UBND/GPMB ngày 11/01/2024 như sau:

Ông Lý T có phần đất ảnh hưởng Dự án khu đô thị T - Chính trị tỉnh. Ngày 26/12/2008 UBND thành phố C ban hành quyết định thu hồi phần đất ông Lý T 64m², ông T được bồi thường, hỗ trợ số tiền 86.825.685 đồng, ông T đã nhận xong. Ngày 26/07/2018 tại cuộc họp kết luận: Đối với những hộ chưa nhận tiền bồi thường, hỗ trợ của Dự án, có nhà trên đất nhưng không đủ điều kiện tái định cư theo quy định (cất nhà trên đất nông nghiệp, trên đất người khác) không còn chỗ ở nào khác hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn, con đông được UBND cấp xã xác nhận thì được xem xét chính sách về nhà ở, việc xem xét chính sách về nhà ở UBND tỉnh sẽ xem xét, giải quyết từng trường hợp cụ thể, trong đó xem xét hoàn cảnh cụ thể của từng hộ gia đình, cá nhân để quyết định cho phép trả trước từ 20 - 30% giá trị lô nền sau đó trả chậm trả dần trong 05 năm.

Ngày 19/04/2019 UBND tỉnh có Công văn số: 2671/UBND-NNTN có bổ sung thêm nhóm đối tượng được mua nền giải quyết chính sách về nhà ở là: Các trường hợp đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ nhưng chưa di dời chổ ở, có nhu cầu về đất ở để xây dựng nhà ở. Đối với ông T phần nhà ở đã dở toàn bộ mái, không có người ở nên không đủ điều kiện xem xét bán nền.

Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Cà Mau trình bày tại Công văn số: 69/TTPTQĐ ngày 22/01/2024 như sau:

Theo chính sách nhà ở thì theo chủ trương của UBND tỉnh C tại Công văn số: 2671/UBND-NNTN ngày 19/04/2019 về việc kết quả họp Hội đồng xét duyệt bố trí tái định cư thì nhóm đối tượng được mua nền giải quyết chính sách về nhà ở là: “các trường hợp đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ nhưng chưa di dời chỗ ở, có nhu cầu về đất ở để xây dựng nhà ở”. Đối với hộ ông T đã dỡ toàn bộ mái nhà và không có chủ hộ ở tại nhà, nên không thuộc đối tượng được xem xét, giải quyết về chính sách nhà ở.

- Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 09/2024/HC-ST ngày 25 tháng 4

năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:

Căn cứ vào các Điều 3, 30, 32, 115, 116; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị định số: 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ.

Tuyên xử:

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lý T về việc: Yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Công văn số: 278/UBND-NĐ ngày 13/02/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc: Trả lời nội dung đơn yêu cầu của ông Lý T.
  2. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lý T về việc: Yêu cầu Tòa án giải quyết, tuyên bố hành vi của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc cấp tài liệu, hồ sơ không đúng dẫn đến ông Lý T không được xem xét mua nền nhà tái định cư là trái pháp luật.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 04 tháng 5 năm 2024, người khởi kiện ông Lý T làm đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện vẫn giữ yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm hoặc sửa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị kiện có ý kiến về yêu cầu kháng cáo: Diện tích đất của ông T bị thu hồi là đất nông nghiệp. Ông T đã nhận tiền hỗ trợ bồi thường và đã di dời dỡ mái nhà, các tài sản trên đất và đi ở nơi khác. Dự án này bị thu hồi không có quỹ đất tái định cư, nhưng sau này do điều chỉnh quy hoạch nên có dư đất để xem xét cho các hộ khó khăn không có chỗ ở nào khác và vẫn đang ở trên nhà đất bị thu hồi. Tại thời điểm đoàn kiểm tra lập biên bản hiện trạng nhà ông T chỉ còn tường nhà do hai bên là tường chung với nhà khác nên không dỡ được, ông T nói nhà bị tốc mái không ở được là không đúng. Sau này, không Trung khiếu nại về việc yêu cầu được mua nền tái định cư nên đã lợp lại mái nhà nhưng không ở mà cho người khác thuê. Do vậy, ông T không đủ điều kiện để xem xét mua nền tái định cư.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị: Kháng cáo của người khởi kiện không có căn cứ để chấp nhận, đề nghị giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Người khởi kiện nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện cấp sơ thẩm đã xác định theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện:

Ông Lý T khởi kiện yêu cầu hủy Công văn số 278 ngày 13/2/2020 của Chủ tịch UBND thành phố C về việc không trả lời đơn ông Lý T không thuộc trường hợp mua nền tái định cư và hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc cung cấp hồ sơ không đúng dẫn đến ông T không mua được nền nhà tái định cư.

Nội dung khởi kiện này, người khởi kiện căn cứ vào công văn 2671/UBND-NNTN ngày 19/04/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh C, công văn số 8042 ngày 11/10/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh C. Tuy nhiên, văn bản số 8042 ngày 11/10/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh C là đồng ý chủ trương đề xuất của Sở tài nguyên và môi trường tỉnh C, văn bản số 3360 ngày 5/10/2023 không phải là quyết định hành chính. Mặt khác, các văn bản này có sau quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (ngày 27/3/2023), nên không thuộc đối tượng điều chỉnh của công văn 278 ngày 13/2/2020 của Chủ tịch UBND thành phố C, mặc dù tháng 4/2019 khi xem xét khiếu nại lần hai, tổ công tác đã đến hiện trạng nhà đất của ông T bị thu hồi thì ông T cũng không ở đó, nên ông T không thuộc trường không có chỗ ở nào khác và không thuộc trường hợp xem xét bổ sung mua nền tái định cư là có cơ sở.

Tại cấp phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới làm thay đổi nội dung quyết định của cấp sơ thẩm, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa là phù hợp.

[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lý T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lý T.
  1. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 09/2024/HC-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
  2. Án phí phúc thẩm: Ông Lý T phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm được khấu trừ theo biên lai tạm ứng án phí số 0000155 ngày 07/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
  3. Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 10/12/2024.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSNS tỉnh Cà Mau;
  • - Cục THADS tỉnh Cà Mau;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HC, VP, 216TTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1246/2024/HC-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về quản lý nhà đất

  • Số bản án: 1246/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà Nước về quản lý nhà đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger