|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1245/2023/DS-PT
Ngày: 26/12/2023
V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Oanh
Các Thẩm phán:
| 1. Bà Nguyễn Thị Thu | 2. Bà Nguyễn Thị Lan Hương |
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Thọ, cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Vào các ngày 13 tháng 12 năm 2023 và ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 407/DSPT ngày 10/10/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án sơ thẩm số 2147/2023/DS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố TĐ, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4915/2023/QĐPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 15395/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2023, và quyết định tạm ngưng phiên tòa số 17129/2023/QĐ-PT ngày 22/12/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị N, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: số nhà A đường N, phường P, thành phố T, Thành phố H.
Bị đơn: Bà Vũ Thị Mỹ A, sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: số nhà F đường Đ, Khu phố B, phường P, T, Thành phố H.
Địa chỉ tạm trú: số nhà A đường N, phường P, T, Thành phố H.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn Vũ Thị Mỹ A: Ông Nguyễn Trung T, địa chỉ: Căn L, chung cư D, số nhà I đường N, phường T, Quận G, Thành phố H, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/6/2021). (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trương Văn Đ, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Địa chỉ: số nhà F đường Đ, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố H.
- Người đại diện hợp pháp của ông Trương Văn Đ: Bà Vũ Thị Mỹ A, địa chỉ: số nhà F đường Đ, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố H, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 24/2/2021). (có đơn xin vắng mặt)
2. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: số nhà A đường N, phường P, thành phố T, Thành phố H.
3. Bà Trương Thị Thu T2, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: A N, phường P, T, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị N trình bày:
Vào ngày 06/6/2015, bà N có chuyển nhượng một phần đất có diện tích 79.5 m2 cho bà Vũ Thị Mỹ A theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở đã được Phòng C chứng thực, đã làm thủ tục sang tên cho bà A. Bà N chỉ bán cho bà A phần đất 79,5 m2 thuộc thửa 42-1, tờ bản đồ số 18, phường P, thành phố T (Quận I cũ), (theo tài liệu năm 2003). Bà N không bán phần đất phía trước nhà có diện tích 50,4m2 (phần đất này nằm trong phần quy hoạch mở rộng đường N) theo Bản đồ hiện trạng vị trí để lập thủ tục xin chuyển nhượng.
Trước đây, bà có thỏa thuận bán cho bà Mỹ A phần đất 50.4m2 giá 10.000.000 đồng/m2 và 79,5m2 đất có phần xây dựng bên trên giá 25.000.000 đồng/m2. Bà và bà Mỹ A thống nhất đo vẽ bản đồ ngày 12/03/2015. Đến ngày 06/6/2015, bà Mỹ A đổi ý không mua toàn bộ diện tích trên mà chỉ mua phần diện tích 79,5m2. Bà Mỹ A nói đất thuộc lộ giới nên không mua nữa, bà Mỹ A nói khi nào giải tỏa thì bà nhận tiền. Bà có nói bà Mỹ A nếu không mua khu đất 50,4m2 thì lấy đường đâu đi. Bà Mỹ A nói khi nào làm đường thì bà Mỹ A mới cất nhà. Nhưng khoảng 02 tháng sau thì bà Mỹ A năn nỉ bà cho sử dụng khu đất làm đường đi. Do là chị em trong gia đình nên bà đồng ý.
Phần đất này có nguồn gốc do bà N và mẹ bà Nghĩa 1 bà Phạm Thị K sử dụng mấy chục năm nay, khi mẹ bà N chết thì bà N tiếp tục sử dụng. Nay bà Vũ Thị Mỹ A chiếm luôn phần đất của bà N để sử dụng, xây nhà trọ và K1 để buôn bán, hưởng lợi trên phần đất của bà N. Trong khi phần đất này không được phép xây dựng, bà A xây dựng như vậy là trái quy định pháp luật.
Nay bà N yêu cầu bà Vũ Thị Mỹ A trả lại cho bà N phần đất có diện tích 50,4m2 thuộc thửa 42-1, tờ bản đồ số 18, phường P, thành phố T (Quận I cũ) (phần đất này nằm trong phần quy hoạch mở rộng đường N) theo Bản đồ hiện trạng vị trí để lập thủ tục xin chuyển nhượng. Yêu cầu bà A tháo dỡ nhà đã xây dựng trên phần đất có diện tích 50,4 m2 thuộc thửa 42-1, tờ bản đồ số 18, phường P, thành phố T (Quận I cũ), trả lại mặt bằng cho bà N.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N biết được phần xây dựng đang được bà Phạm Thị T1 thuê kinh doanh thuốc tây nên bà bổ sung thêm yêu cầu, đề nghị Tòa án buộc bà Phạm Thị T1 phải trả lại khu đất trên cho bà.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Trung T, là đại diện cho bị đơn bà Vũ Thị Mỹ A trình bày:
Vào năm 2015, sau khi thỏa thuận, bà Trương Thị N đồng ý chuyển nhượng và bà Vũ Thị Mỹ A đồng ý nhận chuyển nhượng đối với một phần căn nhà và diện tích đất 129,9 m2 tọa lạc tại số A đường N, ấp T, phường P, thành phố T (Quận I cũ), Thành phố H, thuộc thửa 42-1 tờ bản đồ số 18-TL-2003 với giá chuyển nhượng là 2.200.000.000 (hai tỷ hai trăm triệu) đồng.
Ngày 06/6/2015, bà Vũ Thị Mỹ A và bà Trương Thị N đến Phòng C Thành phố H để ký hợp đồng chuyển nhượng đối với một phần căn nhà và diện tích đất 129,9 m2 trên như đã thỏa thuận. Tuy nhiên, do phần diện tích đất trên có một phần diện tích 50,4 m2 nằm trong lộ giới quy hoạch đường N và không được Nhà nước công nhận nên Phòng Công chứng số 3 Thành phố C chỉ chấp nhận công chứng hợp đồng chuyển nhượng đối với phần diện tích 79,5 m2 nằm ngoài lộ giới. Sau đó, bà Vũ Thị Mỹ A và bà Trương Thị N vẫn thống nhất chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất 129,9 m2 và thanh toán số tiền 2.200.000.000 (hai tỷ hai trăm triệu) đồng nhưng ký Hợp đồng chuyển nhượng công chứng với diện tích ghi trong hợp đồng là 79,5m2 thay vì 129.9 m2 như giao dịch thực tế. Sau khi chuyển nhượng, bà Vũ Thị Mỹ A là người sử dụng đối với diện tích đất 129,9 m2 cho đến nay.
Do đó, việc bà Trương Thị N yêu cầu bà Vũ Thị Mỹ A trả lại phần diện tích 50,4 m2 là không có căn cứ, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị N.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn Đ, có bà Vũ Thị Mỹ A làm đại diện, trình bày:
Ông Đ có cùng ý kiến với bà Mỹ A. Bà Mỹ A đại diện cho ông Đ đề nghị được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị xét xử vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Thu T2 trình bày:
Ngày 06/6/2015, bà Trương Thị Nghĩa 11 cô ruột của bà có bán cho mẹ bà là bà Vũ Thị Mỹ A một căn nhà và đất tọa lạc tại số A đường N, phường P, thành phố T (Quận I cũ). Lúc bán, bà N bán luôn căn nhà và đất chạy dài giáp đường N kể cả phần diện tích vi phạm quy hoạch.
Bà T2 là con nên chuyện tranh chấp giữa mẹ bà và bà N, bà không có ý kiến gì.
Bà T2 đề nghị Tòa án chấp thuận việc bà vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Danh T3 trình bày:
Ông là người quen của bà Mỹ A, vào khoảng thời gian đầu tháng 6/2022, ông cùng 02 cháu là Danh N1 và Danh N2 có đến chơi và chỉ ở nhờ nhà của bà Vũ Thị Mỹ A 05 ngày tại địa chỉ A N, phường P, thành phố T (Quận I cũ), Thành phố H. Hiện nay, ông không còn ở địa chỉ trên nữa.
Việc bà Trương Thị N và bà Vũ Thị Mỹ A đang tranh chấp đối với diện tích đất trên không liên quan gì đến ông vào ông không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án. Ông cam kết đồng ý với mọi quyết định của Tòa án liên quan đến việc giải quyết vụ án trên.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ và phần trình bày của ông T3, Tòa án không tiếp tục đưa ông T3 và hai con ông là N1 và N2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà là người quen của bà Vũ Thị Mỹ A, vào khoảng thời gian đầu tháng 06/2022, bà có đến chơi và chỉ ở nhờ nhà của bà Vũ Thị Mỹ A 05 ngày tại địa chỉ A Đường N, phường P, thành phố T (Quận I cũ), Thành phố H, hiện nay bà đã không còn ở tại địa chỉ trên nữa.
Việc bà Trương Thị N và bà Vũ Thị Mỹ A tranh chấp đối với diện tích đất trên không liên quan gì đến bà và bà không có ý kiến gì về việc giải quyết. Bà cam kết đồng ý với mọi quyết định của Tòa án liên quan đến việc giải quyết vụ án trên, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Bà M có đơn đề nghị vắng mặt trong tất cả các buổi xét xử của Tòa án và đề nghị xét xử vắng mặt.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ và phần trình bày của bà M, Tòa án không tiếp tục đưa bà M và hai con ông là N1 và N2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T1 trình bày:
Bà là người thuê nhà của bà Vũ Thị Mỹ A tại địa chỉ số A đường N, phường P, thành phố T (Quận I cũ), Thành phố H, thời hạn thuê từ tháng 7/2020. (Giá thuê mỗi tháng là 6.000.000 đồng và vẫn thanh toán đúng hạn hàng tháng.)
Về việc bà Trương Thị N và bà Vũ Thị Mỹ A tranh chấp đối với diện tích đất trên bà không biết và không có ý kiến gì về việc giải quyết. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật phần nhà thuê nằm trong phần đất tranh chấp.
Bà T1 có đơn đề nghị vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc của Tòa án và đề nghị xét xử vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân Quận I (Nay là Ủy ban nhân dân thành phố T), có bà Lê Thị T4 làm đại diện theo ủy quyền trình bày:
+ Việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữa nhà ở - quyền sử dụng đất ở cho bà Trương Thị N:
Ngày 17-4-2008, Ủy ban nhân dân Quận I cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở - quyền sử dụng đất ở số 100/2008/UB.GCN cho bà Phạm Thị K đối với căn nhà số A (số C) Nguyễn Duy T5, ấp T, phường P, thành phố T (Quận I cũ), diện tích đất được công nhận là 232,1 m2 thuộc một phần thửa 42 tờ bản đồ số 18, Bộ địa chính phường P, thành phố T (Quận I cũ), theo tài liệu đo đạc năm 2003, diện tích nhà được công nhận là 154,7 m2; kết cấu nhà: tường gạch, mái tôn. Phần diện tích đất nằm trong phạm vi quy hoạch là 135,5 m2.
Ngày 21/5/2008 tại Phòng C Thành phố H, bà Phạm Thị K lập Hợp đồng số 13590 HĐ-TCN tặng cho bà Trương Thị N toàn bộ căn nhà số A (số cũ 391A) đường N, ấp T, phường P, thành phố T (Quận I cũ), Thành phố H.
Ngày 07/7/2008, Ủy ban nhân dân Quận I cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở số 023/2008/UB.GCN cho bà Trương Thị N đối với căn nhà số A (số C) Nguyễn Duy T5, ấp T, phường P, thành phố T (Quận I cũ).
+ Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác năm liền với đất cho bà Vũ Thị Mỹ A:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 751860 (CS 04801) do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Vũ Thị Mỹ A. Trường hợp này, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố T (Quận I cũ). Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TĐ (Quận I cũ) liên hệ với Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H (Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T (Quận I cũ)) để biết việc cấp Giấy chứng nhận cho bà Vũ Thị Mỹ A.
Bà T4 có đơn đề nghị vắng mặt trong các buổi hòa giải, xét xử.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ và phần trình bày của Ủy ban nhân dân Quận I (Nay là Ủy ban nhân dân thành phố T), Tòa án không tiếp tục đưa Ủy ban nhân dân thành phố T và hai con ông là N1 và N2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
Tại Bản án sơ thẩm số 2147/2023/DS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố TĐ, Thành phố H đã xử:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 166, Điều 579 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 12 Luật đất đai 2013;
Căn cứ khoản 2 Điều 29 Luật đất đai 2003
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Vũ Thị Mỹ A tháo dỡ nhà đã xây dựng trên phần đất có diện tích 46,7 m2 thuộc thửa 42 tờ bản đồ số 18, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H đo vẽ ngày 09/5/2018 được cập nhật bổ sung vào ngày 30/5/2023 theo Hợp đồng số 21658/TTDĐBĐ-CNTĐ đo vẽ.
Buộc bà Vũ Thị Mỹ A và bà Phạm Thị T1 trả lại cho bà N phần đất có diện tích 50,4m2 thuộc thửa 42, tờ bản đồ số 18, phường P, Quận I (phần đất này nằm trong phần quy hoạch mở rộng đường N) theo theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H đo vẽ ngày 09/5/2018 được cập nhật bổ sung vào ngày 30/5/2023 theo Hợp đồng số 21658/TTDĐBĐ-CNTĐ đo vẽ để bà Mỹ A tiếp tục sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 023/2008/UB.GCN ngày 07/7/2008.
Bà Trương Thị N có nghĩa vụ chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý đất đai khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trường hợp các bên tranh chấp về lối đi qua bất động sản liền kề thì có quyền khởi kiện để được giải quyết bằng vụ án khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Vũ Thị Mỹ A và bà Phạm Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Trả lại cho bà Trương Thị N số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 6.300.000 (Sáu triệu ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2016/0003777 ngày 22/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TĐ (Quận I cũ), Thành phố H.
Ngoài ra bản án còn tuyên án quyền kháng cáo của các đương sự.
- Ngày 10/7/2023, bị đơn bà Vũ Thị Mỹ A nộp đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án. Lý do kháng cáo: phán quyết của Hội đồng xét xử là thiếu căn cứ, chưa xem xét đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên khởi kiện, Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của chủ tọa, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự và về nội dung như sau:
+ Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các bên đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về nội dung: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của Bà Vũ Thị Mỹ A. Sửa án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] - Về tố tụng:
Kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị Mỹ A làm đúng hình thức, trong hạn luật định nên được công nhận về mặt hình thức.
[2] - Về nội dung kháng cáo, kháng nghị:
Xét kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị Mỹ A với nội dung: phán quyết của Hội đồng xét xử là thiếu căn cứ, chưa xem xét đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Theo ông Nguyễn Trung T – người đại diện bị đơn trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, hai bên thỏa thuận chuyển nhượng 129,9 m2, nhưng khi ra công chứng thì Phòng C chỉ chấp nhận công chứng đối với phần diện tích 79,5 m2 nằm ngoài lộ giới, sau khi chuyển nhượng, bà A là người trực tiếp sử dụng toàn bộ diện tích đất cho đến nay, nên việc bà N đòi lại đất là không có căn cứ.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy,
Về nguồn gốc thửa đất có tranh chấp:
Phần đất tranh chấp có diện tích 50,4 m2, thuộc một phần trong thửa đất không phù hợp quy hoạch có diện tích 138,5 m2, không được công nhận do nằm trong hành lang bảo vệ an toàn hệ thống giao thông (lộ giới đường N), tuy nhiên vẫn được được ghi nhận trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 100/2008/UB.GCN ngày 17/4/2008 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Phạm Thị K. Nguyên đơn bà Trương Thị N được bà K cho tặng toàn bộ nhà, đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 023/2008/UB.GCN ngày 07/7/2008 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp. Việc bà K, sau đó là bà N được sử dụng và được cấp giấy chứng nhận cho phần đất diện tích 138,5 m2 nêu trên là đúng quy định tại khoản 3 Điều 96 Luật đất đai năm 2003, được hướng dẫn tại điểm b, c khoản khoản 4 Điều 92 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 (có hiệu lực tại thời điểm cấp giấy chứng nhận).
Ngày 06/6/2015, bà N chuyển nhượng một phần nhà đất cho bị đơn bà A theo Hợp đồng công chứng số 16543 ngày 06/6/2015. Đối tượng hợp đồng là nhà ở diện tích 40 m2, đất ở diện tích 79,5 m2. Vị trí, kích thước và diện tích phần nhà và quyền sử dụng đất chuyển quyền được xác định trên Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH Đ1 ngày 12/3/2015, được văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Quận I kiểm tra bản vẽ số 3347/VPĐKQSDĐ ngày 24/5/2015. Trên cơ sở này, bị đơn bà Vũ Thị Mỹ A được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN CS04801 ngày 17/12/2015 do Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp, theo đó ngoài diện tích nhà, đất được công nhận, phần diện tích 50,4 m2 cũng được ghi nhận trên giấy chứng nhận cấp cho bà A.
Như vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 157 Luật Đất đai năm 2013, được hướng dẫn tại điểm b, c khoản khoản 4 Điều 56 Nghị định 43/2013 ngày 15/05/2014 (thay thế cho Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004) thì về mặt pháp lý, bà A là người được sử dụng đối với phần đất 50,4 m2 đang tranh chấp vì phần đất được ghi nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà A. Vì vậy, bà N không có cơ sở pháp lý để đòi lại quyền sử dụng đất đối với phần đất này, trường hợp này, lẽ ra bà N phải khởi kiện yêu cầu tranh chấp đối với hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất đã ký và yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho bà A đối với phần đất tranh chấp, chứ không phải tranh chấp quyền sử dụng đất, tuy nhiên đây là quyền tự định đoạt của đương sự nên Tòa án thụ lý theo yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Xét lý luận của bà N làm căn cứ cho việc bà đòi bà A phần đất tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng. Theo bà N, bà chỉ chuyển nhượng cho bà A phần đất nằm ngoài lộ giới, đối với phần đất trong lộ giới (phần đất tranh chấp 50,4 m2) thì bà không chuyển nhượng, chứng cứ bà N đưa ra là hợp đồng công chứng chỉ ghi nhận việc chuyển nhượng đất ở diện tích 79,5 m2, phần đất trong lộ giới 50,4 m2 sau khi đo vẽ thì bà A không chịu mua nên bà chỉ bán phần ngoài lộ giới, do bà A xin được đi nhờ phần này nên bà cho đi nhưng sau đó bà A chiếm luôn để sử dụng, xây nhà trọ, kios để buôn bán.
Theo bà A, bà nhận chuyển nhượng 129.9 m2 bao gồm cả phần tranh chấp, chứng cứ bà A đưa ra là việc sau khi bà nhận chuyển nhượng đã trực tiếp sử dụng đến nay, đối với nội dung hợp đồng công chứng thì bà A cho rằng khi ra công chứng thì phần năm trong lộ giới không được phòng công chứng chấp nhận công chứng.
Hội đồng xét xử xét thấy,
Về giá chuyển nhượng, giữa các bên có lời khai mâu thuẫn về giá chuyển nhượng, đồng thời khác với nội dung hợp đồng công chứng, các bên không đưa ra được chứng cứ nào chứng minh về giá chuyển nhượng nên không thể dùng đơn giá chuyển nhượng xác định diện tích chuyển nhượng. Về giá chuyển nhượng hai bên không tranh chấp nên Tòa án không xét.
Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 12/3/2015 được lập trong quá trình xin chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở giữa hai bên, là cơ sở pháp lý để cơ quan công chứng thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng, cũng như cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho người được chuyển nhượng. Trên Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 12/3/2015 có chữ ký xác nhận của bên chuyển nhượng bà Trương Thị N, bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Thị Mỹ A. Theo bản đồ ghi nhận đối tượng chuyển nhượng: “Khu đất diện tích: 0 ha 0129,9. Trong đó: Diện tích nằm ngoài LG đã CN: 79,5m2. Diện tích đất nằm trong LG không CN: 50,4m2. Diện tích xây dựng nằm ngoài LG đã CN: 40,0 m2” trên bản vẽ cũng ghi nhận rõ phần diện tích 50,4m2 được đánh sọc chéo, ghi chú: “Diện tích đất trong phạm vi quy hoạch 50,4m2. DTXD: 0,0m2". Như vậy, ngay khi thực hiện việc chuyển nhượng giữa các bên đã thể hiện rõ ý chí về việc chuyển nhượng bao gồm cả diện tích 50,4m2. Việc nguyên đơn cho rằng sau khi đo vẽ bị đơn đổi ý không mua nhưng vẫn tiếp tục sử dụng bản đồ đã đo vẽ để chuyển nhượng là không hợp lý, mặt khác, sau khi chuyển nhượng từ tháng 6/2015, bị đơn đã trực tiếp sử dụng phần đất tranh chấp mà nguyên đơn không có ý kiến gì cho đến khi tranh chấp tại địa phương tháng 11/2017 và khởi kiện. Việc công chứng đối với phần đất không được công nhận do nằm trong hành lang an toàn công trình là không được phép nên cơ quan công chứng từ chối công chứng là đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên cơ quan công chứng cũng ghi nhận rõ trên hợp đồng: “Vị trí, kích thước và diện tích phần nhà và quyền sử dụng đất chuyển nhượng được xác định trên Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH Đ1 ngày 12/3/2015".
Như vậy, việc nguyên đơn bà Nghĩa lý 12 cho rằng không có chuyển nhượng cho bị đơn bà A phần diện tích đất tranh chấp 50,4 m2 là không có cơ sở; mặt khác phần đất này đã được ghi nhận trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN CS04801 ngày 17/12/2015 do Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bị đơn bà A nên nguyên đơn bà N khởi kiện yêu cầu bà A trả lại diện tích đất trên là không có căn cứ để chấp nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở số 023/2008/UB.GCN cấp cho bà N ngày 07/7/2008 để công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp mà không xem xét phần cắt giảm trừ sau khi chuyển nhượng cho bà A, cũng như không xem xét, đánh giá Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 12/3/2015, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN CS04801 ngày 17/12/2015 mà theo đó phần đất tranh chấp đã được ghi nhận cấp cho bà A, là đánh giá chứng cứ không toàn diện nên cần phải sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N đối với yêu cầu buộc bà A trả lại đất cũng như tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất.
Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng: Do sửa bản án sơ thẩm nên sửa phần án phí dân sự sơ thẩm. Yêu cầu của nguyên đơn bà N không được chấp nhận nên bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Theo Biên bản định giá tài sản ngày 21/9/2018 của Hội đồng định giá thì đất tranh chấp nằm trong dự án mở rộng cầu Ô nên giá đền bù, hỗ trợ, bồi thường sẽ được thực hiện theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nên không thể định giá; căn cứ theo Công văn số 647/BBT ngày 15/11/2018 của Ban Bồi thường – Giải phóng mặt bằng Quận I thì hiện nay dự án đầu tư xây dựng cầu Ô đã tạm dừng, nên chưa tiến hành các thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, chưa trình phê duyệt đơn giá bồi thường nên không có hồ sơ cung cấp theo yêu cầu của Tòa án. Do không xác định được giá ngạch nên bà N phải chịu án phí không giá ngạch 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bị đơn bà A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chi phí định giá tài sản bà N phải chịu; bà N đã có đơn yêu cầu định giá và tự nguyện chịu chi phí.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn bà A được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại cho bị đơn bà A tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 96 Luật đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 157 Luật Đất đai năm 2013; điểm b, c khoản khoản 4 Điều 92 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004; điểm b, c khoản khoản 4 Điều 56 Nghị định 43/2013 ngày 15/05/2014; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị Mỹ A.
- Sửa Bản án sơ thẩm số 2147/2023/DS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố TĐ, Thành phố H.
Tuyên Xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Trương Thị N về đối với các yêu cầu:
- Buộc bà Vũ Thị Mỹ A tháo dỡ nhà đã xây dựng trên phần đất có diện tích 46,7 m2 thuộc thửa 42 tờ bản đồ số 18, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đo vẽ ngày 09/5/2018 được cập nhật bổ sung vào ngày 30/5/2023 theo Hợp đồng số 21658/TTDĐBĐ-CNTĐ đo vẽ.
- Buộc bà Vũ Thị Mỹ A và bà Phạm Thị T1 trả lại cho bà Trương Thị N phần đất có diện tích 50,4 m2 thuộc thửa 42, tờ bản đồ số 18, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H (phần đất này nằm trong phần quy hoạch mở rộng đường N) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đo vẽ ngày 09/5/2018 được cập nhật bổ sung vào ngày 30/5/2023 theo Hợp đồng số 21658/TTDĐBĐ-CNTĐ đo vẽ.
- Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng:
Nguyên đơn bà Trương Thị N chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Trương Thị N đã nộp 6.300.000 (Sáu triệu ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2016/0003777 ngày 22/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố H, trả cho bà Trương Thị N 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo bà Vũ Thị Mỹ A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà Vũ Thị Mỹ A nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004330 ngày 21/7/2023 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Tú Oanh |
Bản án số 1245/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 1245/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm: không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
