TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1242/2023/HNGĐ-PT Ngày: 25-12-2023 V/v tranh chấp Ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Loan
Các Thẩm phán:
- Ông Phan Trịnh Minh Đức;
- Bà Lưu Thị Thủy Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (số B đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2023/TLPT- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp Ly hôn.
Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 497/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5002/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15698/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thùy T, sinh năm: 1988
Địa chỉ: số B đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bà T ủy quyền về phần tranh chấp tài sản chung cho ông Trương Ngọc Ẩ, sinh năm 1973, địa chỉ số A đường P, tổ A, khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai làm đại diện. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
(Văn bản ủy quyền ngày 09/7/2022)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Công H, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Căn hộ D.16.10 tầng 16, Chung cư K, số B đường số A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Ông Nguyễn Sơn H1 và ông Nguyễn Thế A – Luật sư Công ty L1 và Cộng sự. (ông A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông H1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 9 năm 2022 và trong quá trình tố tụng, bà Trần Thùy T và ông Trương Ngọc Á - nguyên đơn và người đại diện trình bày:
Bà T và ông Nguyễn Công H chung sống với nhau năm 2019 do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2019 ngày 26/11/2019).
Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách giáo dục con và cách chi tiêu trong gia đình...; mặc dù vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả nên cả hai đã chọn cách sống ly thân từ năm 2021 đến nay.
Bà T cho rằng không còn tình cảm với ông H nên yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà T và ông H có 01 con chung tên Nguyễn Trần Khả H2 (giới tính N), sinh ngày 12/11/2019. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, khi khởi kiện bà T yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Tại Đơn khởi kiện bổ sung (không ngày, tháng 01 năm 2023 – Tòa án cấp sơ thẩm nhận đơn ngày 09/01/2023) bà T yêu cầu chia ½ (một phần hai) Căn hộ D.16.10 tầng 16, Chung cư K, số B đường số A, xã P, huyện B đồng thời yêu cầu chia ½ (một phần hai) số nợ vay tại Ngân hàng TMCP T1.
Tại biên bản ghi nhận sự việc và biên bản hòa giải ngày 02/3/2023, bà T rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và rút lại yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung.
Ông Nguyễn Công H – bị đơn trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà T về việc kết hôn và quá trình chung sống. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, ông H cho rằng do bà T không muốn sống chung với chồng, ông chỉ đồng ý ly hôn khi giải quyết xong phần tài sản chung và nợ chung.
Về con chung: Cả hai có 01 con chung tên Nguyễn Trần Khả H2 (giới tính N), sinh ngày 12/11/2019. Ông H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nếu bà T giải quyết xong phần tài sản chung và nợ chung với ông thì ông sẽ suy nghĩ đến việc giao con chung cho bà T nuôi dưỡng. Riêng việc cấp dưỡng nuôi con, do hiện nay ông không có việc làm nên không có khả năng.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình tố tụng, ngày 06/5/2023 và ngày 12/5/2023 ông H có đơn phản tố yêu cầu giải quyết phần tài sản chung là Căn hộ D.16.10 tầng 16, Chung cư K, số B đường số A, xã P, huyện B và số nợ chung đã vay tại Ngân hàng TMCP T1 nên yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét.
Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 497/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã quyết định:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thùy T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thùy T được ly hôn với ông Nguyễn Công H.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Khả H2 (giới tính N), sinh ngày 12/11/2019 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H cho đến khi bà T có yêu cầu.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.
2. Đình chỉ yêu cầu tranh chấp tài sản chung và nợ chung của bà Trần Thùy T đối với ông Nguyễn Công H.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/6/2023 ông H kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Sau khi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 16/11/2023 ông H gửi Đơn yêu cầu xem xét sửa Bản án sơ thẩm theo hướng giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Trần Thùy T, ông Nguyễn Công H và người đại diện ủy quyền của bà T về tranh chấp tài sản chung là ông Trương Ngọc Ẩ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại Bài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, Luật sư Nguyễn Thế A cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố của ông H về việc chia tài sản chung, nợ chung; không đưa bà Võ Thị L (là chủ nợ liên quan đến khoản nợ do ông H và bà T mua căn hộ Chung cư K) vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); không xác minh thu thập hồ sơ, tài liệu để làm rõ công việc, thu nhập, nơi ở của bà T là có vi phạm tố tụng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền.
Trong giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tuân thủ thời hạn chuẩn bị xét xử, giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn luật định.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng nguyên tắc xét xử, đảm bảo cho các bên đương sự được phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm và tranh luận; các đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.
Về hình thức đơn kháng cáo: Ngày 27/6/2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh mở phiên tòa xét xử và tuyên án; ngày 30/6/2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nhận được kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Công H. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, đơn kháng cáo của ông Nguyễn Công H còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
Về nội dung kháng cáo: Ngày 30/6/2023, ông Nguyễn Công H kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm; ngày 16/11/2023, ông H gửi Đơn yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm về con chung, yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Trần Khả H2.
Qua xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ, nhận thấy : Theo lời trình bày của ông Nguyễn Công H và bà Trần Thùy T thể hiện cả hai có 01 con chung tên Nguyễn Trần Khả H2 (giới tính: Nữ), sinh ngày 12/11/2019.
Xét thấy: Trẻ H2 là bé gái và đang sống cùng bà T, con chung được bà T chăm sóc tốt; do đó Tòa án cấp sơ thẩm giao con cho bà T nuôi dưỡng là có cơ sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Công H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 497/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
. Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Công H phù hợp với quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên có cơ sở xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung kháng cáo: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2019 ngày 26/11/2019 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì hôn nhân giữa bà Trần Thùy T và ông Nguyễn Công H là hợp pháp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Công H kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm; tuy nhiên, ngày 16/11/2023 ông H gửi Đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa Bản án sơ thẩm theo hướng giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần Bản án sơ thẩm do ông H có kháng cáo như đã nêu trên, đối với quan hệ hôn nhân và phần tài sản chung, nợ chung không xem xét.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Công H về việc yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trần Khả H2 (giới tính N), sinh ngày 12/11/2019, hiện trẻ đang do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối với con chung, bà T và ông H đều có tình yêu thương con như nhau, đều muốn được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi cần xét đến hoàn cảnh thực tế của mỗi bên sau khi ly hôn để quyết định nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho trẻ.
- Về thu nhập: Theo lời khai của các bên đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà T hiện đang làm việc tại Tổng Công ty D, có thu nhập bình quân hàng tháng (theo Giấy xác nhận của Công ty ngày 22/11/2023) là 9.800.000 (chín triệu tám trăm ngàn) đồng và theo trình bày của bà T thì ngoài tiền lương bà còn có thu nhập tăng thêm, ông H hiện đang làm việc tại Công ty Cổ phần Đ với mức lương hàng tháng là 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng nên cả hai đều đảm bảo được cuộc sống tốt cho con.
- Về điều kiện chỗ ở và giờ giấc làm việc: Ông H và bà T đều đang làm việc trong giờ hành chính đồng thời có nơi ở ổn định.
Hội đồng xét xử xét thấy: Xét về việc làm, thu nhập và chỗ ở thì cả ông H và bà T đều có điều kiện như nhau, có đủ khả năng về kinh tế nhưng trên thực tế trẻ Khả H2 đang sống cùng với bà T từ lúc cả hai sống ly thân (năm 2021), con được bà T chăm sóc tốt, không có vấn đề gì cần lưu ý. Bên cạnh đó, trẻ H2 mới 4 tuổi, lại là trẻ gái đang trong giai đoạn phát triển về giới tính, về tâm sinh lý rất cần sự chăm sóc, hướng dẫn, giáo dục của mẹ; ông H gửi đơn cho rằng bà T cản trở ông trong việc thăm hỏi, chăm sóc con chung nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh còn phía bà T thì không thừa nhận có sự việc này.
Ngoài ra, bản thân bà T hàng ngày là người trực tiếp chăm sóc trẻ và hiện do trẻ còn nhỏ chưa đi học nên trong giờ hành chính bà T có sự hỗ trợ của bà N1; về phía ông H, theo Hợp đồng lao động được ký kết giữa ông và Công ty Cổ phần Đ thể hiện thời gian làm việc của ông mỗi ngày bắt đầu từ 8 giờ sáng, kết thúc vào lúc 17 giờ và nơi làm việc là địa chỉ số A tổ A, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, trong quá trình tố tụng ông H trình bày hiện ông đã được công ty điều chuyển về làm việc tại Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên rất thuận lợi trong việc chăm sóc con trong sinh hoạt hàng ngày nhưng không có chứng cứ để chứng minh; bên cạnh đó, khi vụ án chuẩn bị xét xử ở giai đoạn phúc thẩm ông H gửi Đơn xin hoãn phiên tòa với lý do trong khoảng thời gian này ông phải đi công tác, không có mặt ở Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, có cơ sở xác định trong thời điểm hiện tại việc chăm sóc con chung của ông H không thuận lợi bằng bà T nên Tòa án cấp sơ thẩm giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ. Do đó, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, tránh xáo trộn cuộc sống nhằm tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt xét thấy cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm về vấn đề con chung, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo ông H, tiếp tục giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Đây cũng là đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Ông Nguyễn Công H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Công H.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 497/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thùy T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thùy T được ly hôn với ông Nguyễn Công H.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Khả H2 (giới tính N), sinh ngày 12/11/2019 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H cho đến khi bà T có yêu cầu.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Đình chỉ xét xử yêu cầu tranh chấp tài sản chung và nợ chung của bà Trần Thùy T đối với ông Nguyễn Công H.
2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thùy T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0041698 ngày 03/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T không phải nộp thêm án phí sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Trần Thùy T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng theo biên lai số AA/2021/0042440 ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Công H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0019927 ngày 03/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông H không phải nộp thêm án phí phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Bích Loan |
Bản án số 1242/2023/HNGĐ-PT ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1242/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
