|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 124/2024/HS-PT Ngày 30-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Thẩm phán: Ông Vũ Quang Trung
Bà Bùi Thị Thu Hằng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L, Phạm Minh Q, Bùi Đức A do có kháng cáo của các bị cáo Đỗ Văn K, Bùi Đức A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L, Phạm Minh Q, Bùi Đức A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Đỗ Văn K, sinh ngày 18 tháng 06 năm 2006 (khi phạm tội 17 tuổi 05 tháng 05 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn K1 và bà Đinh Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02/12/2023; có mặt.
- Vũ Tuấn D, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2007 (khi phạm tội 16 tuổi 10 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Tuấn T1 và bà Vũ Thị T2; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặm “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02/12/2023; có mặt.
- Phạm Văn L, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2009 (khi phạm tội 14 tuổi 06 tháng 06 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T3 và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02/12/2023; có mặt.
- Bùi Đức A, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2009 (khi phạm tội 14 tuổi 09 tháng 08 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Lâm T4 và bà Vũ Thị H1; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02/12/2023; có mặt.
- Phạm Minh Q, sinh ngày 30 tháng 5 năm 2009 (khi phạm tội 14 tuổi 05 tháng 23 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thanh H2; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02/12/2023; có mặt.
- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Ngoài ra còn có 01 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn L kháng cáo: Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; đều có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Văn K kháng cáo: Ông Đỗ Văn K1, sinh năm 1986 và bà Đinh Thị T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; ông K1 vắng mặt, bà T có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Minh Q kháng cáo: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; ông V vắng mặt, bà H2 có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Đức A kháng cáo: Ông Bùi Lâm T4, sinh năm 1977 và bà Vũ Thị H1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; ông T4 vắng mặt, bà H1 có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của Vũ Tuấn D kháng cáo: Ông Vũ Tuấn T1, sinh năm 1977 và bà Vũ Thị T2, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; ông T1 vắng mặt, bà T2 có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D: Bà Nguyễn Thị Thu T5 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Bùi Đức A: Ông Nguyễn Xuân L1, sinh năm 1957 – Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh Q: Luật sư Nguyễn Thị Lan P, Luật sư Văn phòng L3, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Bị hại: Cao Duy T6, sinh ngày 18/8/2006; nơi cư trú: Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Cao Duy H3, nơi cư trú: Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Đại diện Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng - nơi bị cáo Đỗ Văn K đang sinh sống, sinh hoạt; vắng mặt.
- Đại diện Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng - nơi bị cáo Vũ Tuấn D đang sinh sống, sinh hoạt; vắng mặt.
- Đại diện Trường Trung học cơ sở T7, huyện K - nơi bị cáo Phạm Văn L, Phạm Minh Q đang học tập; vắng mặt.
- Đại diện Trường Trung học cơ sở M1, huyện K, thành phố Hải Phòng - nơi bị cáo Bùi Đức A đang học tập; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Văn K, Bùi Đức A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L, Phạm Minh Q, Bùi Đức A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Lâm A1 đăng thông tin bán 01 xe mô tô Wave Alpha màu đen trắng, biển kiểm soát 15B3-665.93 (không có giấy đăng ký xe) trên mạng xã hội facebook. Sáng ngày 23/11/2023, Cao Duy T6 nhắn tin với Lâm Al qua tài khoản facebook hỏi mua xe. Cao Duy T6 và Vũ Lâm A1 hẹn gặp nhau ở Cầu K, huyện T để giao dịch mua bán xe. Thấy có người mua xe nên Lâm A1 nảy sinh ý định bán xe sau đó sẽ cướp lại chiếc xe vừa mới bán. Khoảng 12 giờ cùng ngày tại quán “Internet Bảo M” ở thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, Vũ Lâm A1 rủ Phạm Văn L, Phạm Minh Q và Đỗ Văn K đi bán xe. Vũ Lâm Al đưa xe mô tô Wave Alpha biển kiểm soát 15B3-665.93 cho Phạm Văn L điều khiển chở Phạm Minh Q; Vũ Lâm A1 điều khiển xe mô tô Vision màu đen biển kiểm soát 15F1-306.30 của Đỗ Văn K chở K. Khi cả nhóm đi đến Cầu K thì Cao Duy T6 thay đổi địa điểm, hẹn mua xe ở công viên huyện K nên cả nhóm quay về huyện K. Khi cả nhóm đi đến đoạn đường Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng, Vũ Lâm A1 nói với cả nhóm sau khi bán xe xong sẽ cướp lại và bảo Phạm Văn L và Phạm Minh Q đứng ra giao dịch bán xe. K, L, Q đồng ý.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, cả nhóm Lâm A1 đi đến quán nước mía tại khu vực đường C đối diện cây xăng thôn T, xã M, huyện K thì gặp Cao Duy T6 điều khiển xe mô tô Airblade biển kiểm soát 15M1-2805 chở bạn là Đỗ Nhân K2. Phạm Văn L và Phạm Minh Q dừng xe, đứng ở khu vực vỉa hè cách quán nước mía khoảng 15 mét để giao dịch mua bán xe với T6 và K2. Vũ Lâm A1 và Đỗ Văn K đi vào quán nước mía, tại đây Lâm A1 gặp bạn là Vũ Tuấn D và Bùi Đức A đang ngồi uống nước nên gọi D, Đức A đi ra ngõ cạnh quán nước mía nói cho Đức A và D biết việc Lâm A1 bán xe sau đó bảo cả hai đi lên khu vực nhà nghỉ T8 chặn lại để Lâm A1 cướp xe. Lúc này Đức A và D hiểu Lâm Al rủ đi cướp xe nhưng Đức A nói xem đã. Sau đó Vũ Lâm A1, Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Bùi Đức A ngồi trong quán nước mía quan sát việc mua bán xe.
Sau khi xem xe và mặc cả giá với Phạm Văn L thì Cao Duy T6 đồng ý mua mô tô Wave Alpha màu đen trắng biển kiểm soát 15B3-665.93 với giá 6.200.000 đồng và đưa 6.500.000 đồng cho L. Do không có tiền trả lại nên Phạm Văn L đi vào trong quán nước mía đổi tiền; Phạm Minh Q ngồi ở vỉa hè cùng Cao Duy T6 và Đỗ Nhân K2 chờ L. Đổi tiền xong Phạm Văn L đưa cho Lâm A1 số tiền 6.200.000 đồng; Lâm A1 bảo với L và K sau khi bán xe xong, Phạm Văn L dẫn nhóm T6 qua đoạn đường có nhà nghỉ T8 để cướp xe, L đồng ý. Sau đó Lâm Al đi ra bảo Bùi Đức A và Vũ Tuấn D đi lên đường thuộc khu vực nhà nghỉ T8 trước để chặn xe của nhóm bị hại. Lúc này Bùi Đức A và Vũ Tuấn D đồng ý đi cướp xe, Bùi Đức A lấy khẩu trang che biển số xe mô tô FL Yamaha màu đỏ biển kiểm soát 15AA-045.25 của mình để Vũ Tuấn D điều khiển chở Đức A; Vũ Lâm A1 điều khiển xe mô tô Vision màu đen biển kiểm soát 15F1-306.30 chở Đỗ Văn K, hai xe đi trước ra khu vực nhà nghỉ T8 ở đường C thuộc địa phận tổ dân phố H, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Lúc này, Phạm Văn L cầm 300.000 đồng đi ra trả cho Cao Duy T6 và nói dối nhờ Cao Duy T6 chở về nhà ở xã T, huyện K, T6 đồng ý. Phạm Văn L ngồi sau xe mô tô Airblade biển kiểm soát 5M1-2805 do Đỗ Nhân K2 điều khiển; Phạm Minh Q ngồi sau xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha biển kiểm soát15B3-665.93 do Cao Duy T6 điều khiển. Khi đi, Phạm Văn L chỉ đường, dẫn nhóm T6 đến khu vực nhà nghỉ T8 để cả nhóm cướp xe.
Nhóm của Cao Duy T6 điều khiển xe đi đến đoạn đường khu vực nhà nghỉ T8 thì gặp nhóm của Lâm A1. Thấy vậy, nhóm của Lâm A1 điều khiển xe đi theo sau xe của T6. Đi được một đoạn Đức A bảo D dừng xe, Đức A nhặt 03 viên gạch cầm ở tay với mục đích nếu không đuổi kịp sẽ ném dọa T6 để cướp xe. Đến khu vực cuối đường thuộc tổ dân phố H, thấy không có nhà dân, vắng người nên Lâm Al phóng xe lên, áp sát xe Cao Duy T6 về bên phải đường rồi chặn trước đầu xe của T6; K dơ tay về phía T6 ra hiệu dừng xe. Đồng thời, Lâm Al tìm cớ gây sự với T6 nên hỏi “mày nhìn đểu tao à”; T6 dựng chân chống xe, đứng xuống chưa kịp nói gì thì Lâm A1 nhảy xuống xe lao đến dùng tay, chân đấm, đá nhiều nhát vào người T6; Lâm A1 giằng lấy xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha biển kiểm soát 15B3-665.93 và bảo “xe này là xe của tao”. Khải ngồi trên xe mô tô Vison biển kiểm soát 15F1-306.30 cầm lái chờ Lâm A1 cướp xe. Thấy Lâm A1 chặn đầu xe, đánh T6 nên D điều khiển xe chở Đức A dừng sau xe T6. Đức A ném 03 viên gạch vào lề đường rồi nhảy xuống đạp vào người Q đang đứng gần xe mô tô Wave, thấy Lâm A1 bảo Q là người cùng nhóm nên Đức A dừng lại. D ngồi trên xe mô tô FL Yamaha biển kiểm soát 15AA-045.25 chờ Lâm Al cướp xe. Lúc này, T6 hoảng sợ chạy về phía trước. Lâm A1 điều khiển xe Wave Alpha biển kiểm soát 15B3-665.93 chiếm đoạt được của Cao Duy T6; Đỗ Văn K điều khiển xe mô tô Vison biển kiểm soát 15F1-306.30 chở Phạm Minh Q; Vũ Tuấn D điều khiển xe mô tô FL Yamaha biển kiểm soát 15AA-045.25 chở Bùi Đức A, cả nhóm đi về nhà của mình. Đỗ Nhân K2 điều khiển xe chở Phạm Văn L đi trước không thấy T6 nên quay lại tìm thì thấy T6 đang đứng ở lề đường và được Tó thông báo là bị cướp xe nên K2, T6 chở L đến Công an huyện K trình báo sự việc.
Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã triệu tập Lâm A1, Q, K, D, Đức A đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Cùng ngày, Vũ Lâm A1 giao nộp 01 chiếc xe Wave Alpha màu đen trắng biển kiểm soát 15B3-665.93 và số tiền 6.200.000đồng; Đỗ Văn K giao nộp 01 xe mô tô Vision màu đen biển kiểm soát 15F1-306.30; Bùi Đức A giao nộp 01 xe mô tô FL Yamaha biển kiểm soát 15AA-045.25.
Tại Kết luận định giá tài sản số 35 ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: 01 chiếc xe Wave Alpha màu đen trắng biển kiểm soát 15B3-665.93 trị giá 8.836.500 đồng.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 24/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã khởi tố vụ án “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự; ngày 27/11/2023, khởi tố bị can đối với Vũ Lâm A1; ngày 30/11/2023 khởi tố bị can đối với Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L, Bùi Đức A, Phạm Minh Q về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Ngày 06 tháng 02 năm 2024, tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đã truy tố Vũ Lâm A1, Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L, Bùi Đức A, Phạm Minh Q về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Lâm A1 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 27/11/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn K 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Tuấn D 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn L 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Đức A 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh Q 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo Vũ Lâm A1, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 26/03/2024, bị cáo Đỗ Văn K và người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Văn K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện và phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội.
Ngày 25/3/2024, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Minh Q có đơn kháng cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 25/3/2024, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn L có đơn kháng cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 26/03/2024, người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Tuấn D có đơn kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 25/3/2024, bị cáo Bùi Đức A và người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Đức A có đơn kháng cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội học tập trở thành người có ích cho xã hội.
Tại phiên tòa, các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Xét kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh và áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L, Phạm Minh Q, Bùi Đức A phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của của bị cáo Đỗ Văn K và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L, giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đức A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Phạm Minh Q, Bùi Đức A, sửa một phần bản án về phần hình phạt đối với các bị cáo Phạm Minh Q, Bùi Đức A tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng: Giữ nguyên hình phạt nhưng cho các bị cáo Phạm Minh Q, Bùi Đức A được hưởng án treo.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, đề nghị HĐXX tuyên về án phí hình sự phúc thẩm của người kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D: Căn cứ lời khai của các bị cáo thì người chặn xe của nhóm bị hại là Vũ Lâm A1. Bị cáo K, D không có lời nói nào tác động đến bị hại để làm tê liệt ý chí của bị hại. Sự có mặt của các bị cáo chỉ là giúp sức về tinh thần, mức độ giúp sức là rất nhỏ. Bị cáo D, K không có mục đích cướp được tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân không tiền án tiền sự, phạm tội với vai trò giúp sức, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo.
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Đức A: Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bà ngoại tham gia thanh niên xung phong, được tặng kỷ niệm chương và được chính quyền địa phương xác nhận xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội; gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp tiền bồi thường tổn thất tinh thần 1.000.000 đồng cho bị hại; hiện nay bị cáo đang học tại Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện K. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh Q: Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phạm Minh Q có cụ nội được tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhì, trong thời gian học cấp 2 bị cáo liên tục là học sinh tiên tiến. Tại cấp phúc thẩm, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo và gia đình tự nguyện nộp vào cơ quan thi hành án 1.500.000 đồng để bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội với vai trò thấp nhất trong vụ án, gia đình bị cáo có đơn bảo lãnh có xác nhận của chính quyền địa phương, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo.
- Bị cáo Phạm Văn L và người đại diện hợp pháp của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo được tặng Giấy khen do đạt Huy chương Đồng cấp thành phố giải Vật, bị cáo có ông nội là thương binh, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Các bị cáo khác và người đại diện hợp pháp của các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Minh Q, Phạm Văn L, Bùi Đức A nói lời sau cùng: Trong thời gian qua, các bị cáo rất ăn năn, hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, do các bị cáo còn trẻ, không hiểu biết nên đã vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xét xử các bị cáo được hưởng án treo để được trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Phạm Minh Q, Phạm Văn L không yêu cầu trợ giúp pháp lý, do đó Trợ giúp viên pháp lý không bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm. Bị cáo Q đã có Luật sư Nguyễn Thị Lan P bào chữa, bị cáo L tự bào chữa tại phiên tòa.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 23/11/2023, Vũ Lâm A1, Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L, Bùi Đức A, Phạm Minh Q có hành vi dùng tay đấm, chân đá vào người Cao Duy T6, chiếm đoạt 01 chiếc xe nhãn hiệu Wave Alpha màu đen trắng biển kiểm soát 15B3-665.93 trị giá 8.836.500đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo phạm tội thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, nên không có căn cứ chấp nhận quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng cho các bị cáo.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn K và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng mức hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp. Các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D tham gia phạm tội mặc dù bị rủ rê, lôi kéo, tuy nhiên khi hành động, các bị cáo đều có hành động tích cực. Bị cáo K đồng ý tham gia phạm tội ngay từ đầu, ngồi sau xe do Lâm A1 điều khiển để đi cướp xe, trực tiếp dùng tay ra hiệu bắt bị hại dừng xe để Lâm A1 dùng vũ lực tấn công bị hại và cướp tài sản. Về vai trò, bị cáo có vai trò cao thứ hai trong vụ án, chỉ thấp hơn bị cáo Vũ Lâm A1. Bị cáo D trực tiếp điều khiển xe mô tô đã che biển kiểm soát chở Bùi Đức A đến địa điểm các bị cáo đã bố trí sẵn để chặn xe của nhóm bị hại để đồng bọn thực hiện hành vi cướp tài sản. Các bị cáo thuộc nhóm trên 16 tuổi, có nhận thức về pháp luật đầy đủ hơn các bị cáo dưới 16 tuổi. Mức hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ hình phạt nào mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn K và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, giữ nguyên hình phạt của các bị cáo tại bản án sơ thẩm.
[5] Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn L, kháng cáo của bị cáo Bùi Đức A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Phạm Minh Q, Bùi Đức A:
[5.1] Về vai trò: Các bị cáo Phạm Văn L, Bùi Đức A, Phạm Minh Q phạm tội với vai trò giúp sức, bị Vũ Lâm A1 rủ rê, lôi kéo. Song bị cáo Phạm Văn L phạm tội với vai trò giúp sức tích cực hơn so với Bùi Đức A và Phạm Minh Q: Bị cáo tham gia ngay từ đầu để bàn bạc việc mua bán và cướp xe; bị cáo là người trực tiếp gặp bị hại, nhận tiền từ bị hại, đi đổi tiền để trả lại cho bị hại; nói dối nhờ bị hại chở về nhà ở xã T, huyện K; chỉ đường, dẫn nhóm bị hại đến một cung đường khác để cả nhóm bị cáo thực hiện việc cướp xe. Bị cáo Bùi Đức A trực tiếp dùng khẩu trang che biển kiểm soát xe, ngồi sau xe do Vũ Tuấn D điều khiển đi trước đến địa điểm các bị cáo đã định sẵn để chặn xe của nhóm bị hại; trên đường đi, đã chủ động nhặt 03 viên gạch nhưng sau đó đã vứt đi. Bị cáo Phạm Minh Q có vai trò thấp nhất: Tham gia thỏa thuận bán xe cho bị hại; đi cùng với bị hại đi đến địa điểm các bị cáo đã định sẵn để đồng bọn thực hiện hành vi cướp tài sản.
[5.2] Về nhân thân: Ngày 23/10/2023, bị cáo Phạm Văn L, Phạm Minh Q có hành vi tham gia đánh nhau tại thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Theo Biên bản xác minh tại Công an huyện A thể hiện: Sự việc xảy ra tối ngày 23/10/2023 do L, Q có đi cùng một số đối tượng khác sang xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng để giải quyết mâu thuẫn của một người khác trong nhóm. Trên đường về thì nhóm của L, Q bị một số đối tượng khác chém gây thương tích cho Lê Văn K3. Như vậy, xác định nhóm của L, Q là nhóm bị hại. L, Q chỉ là người đi theo chứng kiến sự việc nên đến nay xác định là người làm chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự nêu trên. Tuy nhiên, chưa khởi tố bị can do chưa xác định được người gây thương tích cho Lê Văn K3. Với tài liệu nêu trên thì chưa đủ căn cứ đánh giá về nhân thân đối với bị cáo L, Q.
[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cấp phúc thẩm, gia đình các bị cáo Phạm Văn L, Bùi Đức A, Phạm Minh Q cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo Đức A và bị cáo Q cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ thể hiện gia đình bị cáo Đức A tự nguyện nộp 1.000.000 đồng, bị cáo Q nộp 1.500.000đồng để bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[5.4] Căn cứ vào vai trò, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn L là phù hợp. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo L.
[5.5] Đối với các bị cáo Bùi Đức A, Phạm Minh Q: Các bị cáo đều đang độ tuổi đi học, bị cáo Đức A có giấy báo nhập học vào cấp 3 tại Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện K. Gia đình các bị cáo có đơn bảo lãnh, cam kết giám sát giáo dục các bị cáo, có xác nhận của chính quyền địa phương. Xét thấy, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo trong trường hợp này không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội lao động, rèn luyện trở thành công dân tốt cho xã hội, căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.
[6] Từ những nhận định trên, không chấp nhận kháng cáo của của bị cáo Đỗ Văn K và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L, giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo tại bản án sơ thẩm. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đức A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Phạm Minh Q, Bùi Đức A, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.
[7] Ghi nhận gia đình bị cáo Bùi Đức A đã tự nguyện nộp số tiền 1.000.000 đồng; gia đình bị cáo Phạm Minh Q tự nguyện nộp số tiền 1.500.000 đồng tại cơ quan thi hành án để bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.
[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Văn K, người đại diện hợp pháp của các bị cáo Vũ Tuấn D, Phạm Văn L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận. Bị cáo Bùi Đức A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Bùi Đức A, Phạm Minh Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của của bị cáo Đỗ Văn K và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L. Giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng:
Căn cứ khoản 1 Điều 168, áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 với bị cáo Đỗ Văn K, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 101, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự của của Bộ luật hình sự,
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn K, Vũ Tuấn D, Phạm Văn L phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn K 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Vũ Tuấn D 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đức A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Phạm Minh Q, Bùi Đức A. Sửa một phần bản án về phần hình phạt đối với các bị cáo Phạm Minh Q, Bùi Đức A tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng:
Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65, Điều 91, Điều 101; Điều 58 của Bộ luật hình sự,
Tuyên bố các bị cáo Bùi Đức A, Phạm Minh Q phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Bùi Đức A 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 (bốn mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Đức A cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh Q 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phạm Minh Q cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
- Ghi nhận gia đình bị cáo Bùi Đức A tự nguyện nộp số tiền 1.000.000 đồng; gia đình bị cáo Phạm Minh Q tự nguyện nộp số tiền 1.500.000 đồng bồi thường thêm cho bị hại Cao Duy T6 theo Biên lai thu tiền số 0006345 và số 0006346 ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
-
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đỗ Văn K, người đại diện hợp pháp của các bị cáo Vũ Tuấn D, Phạm Văn L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo Bùi Đức A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Bùi Đức A, Phạm Minh Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Bùi Thị Thúy Hà |
Bản án số 124/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cướp tài sản
- Số bản án: 124/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cướp tài sản
