Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 – 7 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn và con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

– Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tiến Dũng
  2. Ông Võ Tiến Dũng

– Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án – Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 311/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 93/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Tạ Thị Mỹ X, sinh năm: 1997
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm: 1985
  4. Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án – Nguyên đơn, bà Tạ Thị Mỹ X trình bày:

Bà và ông Nguyễn Tấn H đã tự nguyện chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn vào ngày 02/3/2010 tại UBND phường T, thành phố B trên cơ sở tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do áp lực gia đình chồng thường xuyên đánh đập, ông H không quan tâm chăm sóc vợ con. Vợ chồng sống ly thân được 2 năm. Xét thấy tình cảm không còn nên bà X đề nghị Tòa án giải quyết cho bà X được ly hôn với ông H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Tạ Thị Mỹ X và ông Nguyễn Tấn H có 5 đứa con chung. Là cháu Nguyễn Tấn P K sinh ngày 02/01/2010, cháu Nguyễn Thị Hoàng C sinh ngày 09/7/2012, cháu Nguyễn Tấn Phúc T sinh ngày 26/11/2013, cháu Nguyễn Nhi Cát T1 sinh ngày 01/11/2015, chá ngày 23/9/2019. Hiện nay các cháu đều đang ở với mẹ nên bà X có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng các cháu tới tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Tấn Phúc H sinh ngày 23/9/2019 và cháu Nguyễn Nhi Cát T1 sinh ngày 01/11/2015, mỗi cháu số tiền 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn ông Nguyễn Tấn H: Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Tạ Thị Mỹ X. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Mỹ X được ly hôn với ông Nguyễn Tấn H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn Phúc K sinh ngày 02/01/2010, cháu Nguyễn Thị Hoàng C sinh ngày 09/7/2012, cháu Nguyễn Tấn Phúc T sinh ngày 26/11/2013, cháu Nguyễn Nhi Cát T1 sinh ngày 01/11/2015, cháu Nguyễn Tấn Phúc H sinh ngày 23/9/2019 cho mẹ là bà Tạ Thị Mỹ X chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Tấn H được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Tấn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Tấn Phúc H sinh ngày 23/9/2019 và cháu Nguyễn Nhi Cát T1 sinh ngày 01/11/2015, mỗi cháu số tiền 2.500.000 đồng/tháng. Kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận

không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Tạ Thị Mỹ X yêu cầu ly hôn và con chung với ông Nguyễn Tấn H, địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
  2. Bị đơn ông Nguyễn Tấn H đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nguyên đơn bà Tạ Thị Mỹ X có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

  3. Về nội dung vụ án:
    • [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Mỹ X và ông Nguyễn Tấn H tự nguyện tìm hiểu, đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 02/03/2010 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
    • Bà Tạ Thị Mỹ X và ông Nguyễn Tấn H đã chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Hiện nay bà X xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đã nộp đơn đề nghị giải quyết xin ly hôn với ông H. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

      Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thì chính quyền địa phương không nắm được vì vợ chồng không làm thủ tục hòa giải tại địa phương”.

      Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc ông Nguyễn Tấn H không đến tham gia vào các buổi hòa giải và phiên xét xử của Tòa, đã thể hiện việc ông H không có ý định hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này, từ đó cho thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Tạ Thị Mỹ X, cho bà X được ly hôn với ông Nguyễn Tấn H.

    • [2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Tạ Thị Mỹ X và ông Nguyễn Tấn H có 05 con chung là cháu Nguyễn Tấn P Khang sinh ngày 02/01/2010, cháu Nguyễn Thị Hoàng C sinh ngày 09/7/2012, cháu Nguyễn Tấn Phúc T sinh ngày 26/11/2013, cháu Nguyễn Nhi Cát T1 sinh ngày 01/11/2015, cháu Nguyễn Tấn Phúc H sinh ngày 23/9/2019. Hiện các cháu đang sống với mẹ nên bà X có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành. Trong quá trình giải quyết vụ án ông H không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện về ly hôn cũng như về việc nuôi con chung. Tại bản tự khai của các cháu K, cháu T, cháu T1, cháu C đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Nên Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của bà Tạ Thị Mỹ X về việc được nuôi cháu là phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Nguyễn Tấn P K sinh ngày 02/01/2010, cháu Nguyễn Thị Hoàng C sinh ngày 09/7/2012, cháu Nguyễn Tấn Phúc T sinh ngày 26/11/2013, cháu Nguyễn Nhi Cát T1 sinh ngày 01/11/2015, cháu Nguyễn Tấn Phúc H sinh ngày 23/9/2019 cho mẹ là bà Tạ Thị Mỹ X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.
    • [2.3] Về cấp dưỡng: Bà Tạ Thị Mỹ X yêu cầu ông Nguyễn Tấn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là các cháu Nguyễn Nhi Cát T1 sinh ngày 01/11/2015, cháu Nguyễn Tấn Phúc H sinh ngày 23/9/2019, mỗi cháu 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Tấn H không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào quy định của pháp luật việc cấp dưỡng nuôi con là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Điều 7 Nghị quyết 01/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “..mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú..”. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, thì ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T1 và cháu H1, mỗi cháu là 2.500.000 đồng/ tháng, kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành là phù hợp.
    • [2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tạ Thị Mỹ X và ông Nguyễn Tấn H tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Nguyên đơn bà Tạ Thị Mỹ X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bị đơn ông Nguyễn Tấn H phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị Mỹ X

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Mỹ X được ly hôn với ông Nguyễn Tấn H.
  2. Về con chung:
  3. Giao cháu Nguyễn Tấn Phúc K sinh ngày 02/01/2010, cháu Nguyễn Thị Hoàng C sinh ngày 09/7/2012, cháu Nguyễn Tấn Phúc T sinh ngày 26/11/2013, cháu Nguyễn Nhi Cát T1 sinh ngày 01/11/2015, cháu Nguyễn Tấn Phúc H sinh ngày 23/9/2019 cho mẹ là bà Tạ Thị Mỹ X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

    Ông Nguyễn Tấn H được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.

  4. Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Tấn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Tấn Phúc Hậu s ngày 23/9/2019 và cháu Nguyễn Nhi Cát T1 sinh ngày 01/11/2015, mỗi cháu số tiền 2.500.000 đồng/tháng. Kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành.
  5. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tạ Thị Mỹ X và ông Nguyễn Tấn H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Về án phí: Bà Tạ Thị Mỹ X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Tạ Thị Mỹ X đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0009724 ngày 27/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
  7. Ông Nguyễn Tấn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng.

Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

THẨM

  • – TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND Tp. BMT;
  • – Chi Cục THADS Tp. BMT;
  • – Đương sự;
  • – UBND phường Tự An;
  • – Lưu hồ sơ tại tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK về tranh chấp ly hôn và con chung

  • Số bản án: 124/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Thị Mỹ X xin ly hôn với Nguyễn Tấn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger