Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày: 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh
  2. Ông Nguyễn Văn Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Anh Thương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu P, sinh năm 1983 tại tỉnh Kiên Giang; nơi thường trú: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu L (đã chết) và bà Lương Thị H; Vợ, con: có vợ tên Nguyễn Đinh T (đã chết) và 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023. (Có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Bà Bạch Thị Thùy N, sinh năm: 1993; địa chỉ: Số F đường P, Tổ A, Khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  2. Ông Trần Văn T1, sinh năm: 1987; địa chỉ: Đường số D, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  3. Ông Nguyễn Minh N1, sinh năm: 1992; địa chỉ: Tổ E, Khu phố A, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  4. Bà Trương Thị Tuyết N2, sinh năm: 1997; địa chỉ: Số A Đường số F, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, Nguyễn Hữu P đang ở nhà tại đường số D, tổ A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì có Bạch Thị Thùy N là bạn gái của P đến chơi. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Minh N1 là bạn bè quen biết xã hội với P đến nhà P chơi. Sau khi ngồi nói chuyện với nhau được một lúc thì P nảy sinh ý định đi mua chất ma túy mang về nhà của P để sử dụng nhưng P không nói cho N và N1 biết.

Sau đó, P đi bộ một mình đến khu vực nghĩa địa thuộc ấp T, xã T, huyện C gặp một người nam thanh niên tên L1 (không rõ lai lịch) để mua một gói ma túy với số tiền là 200.000 đồng. P cất giấu gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ về nhà. Tiếp đó, P lấy một ít chất ma túy vừa mua được cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy, đốt lên sử dụng, phần ma túy còn lại trong gói nylon P cất giấu vào trong một chiếc nón rồi đội lên đầu của P. P rủ N và N1 cùng tham gia sử dụng chất ma túy thì N và N1 đều đồng ý và cả ba người thay phiên nhau đốt chất ma túy lên sử dụng chung.

Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Văn T1 là bạn bè có đến nhà P chơi. Lúc này, P rủ T1 cùng tham gia sử dụng chung chất ma túy thì T1 đồng ý rồi đốt chất ma túy lên sử dụng. Khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, Trương Thị Tuyết N2 là bạn bè quen biết xã hội đến nhà P chơi. P rủ N2 cùng tham gia sử dụng chung chất ma túy nhưng N2 không sử dụng mà chỉ ngồi nói chuyện với N.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C với Công an xã T, huyện C tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà của Nguyễn Hữu P thì phát hiện bên trong căn nhà lúc này có Nguyễn Hữu P, Bạch Thị Thùy N, Nguyễn Minh N1, Trần Văn T1Trương Thị Tuyết N2. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trên nền gạch trong phòng có một bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy bên trong ống thủy tinh có chứa tinh thể màu nâu là chất ma túy. Tiếp tục kiểm tra, phát hiện phía trong cái nón P đang đội có cất giấu một gói nylon chứa tinh thể không màu là chất ma túy. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hữu P về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy lúc 22 giờ 40 phút cùng ngày.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài liệu của Nguyễn Hữu P tại căn nhà không số thuộc đường số D, tổ A, ấp T, xã T, huyện C không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Hữu P, Bạch Thị Thùy N, Nguyễn Minh N1, Trần Văn T1Trương Thị Tuyết N2 xác định P, N, N1 và T1 đều có kết quả dương tính (+) với chất ma túy tổng hợp, riêng N2 âm tính (-) với chất ma túy.

Kết luận giám định số 320/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H xác định: 01 (Một) gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Hữu P và hình dấu Công an xã T, huyện C, bên trong có:

  • Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (Ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1037g (không phẩy một không ba bảy gam), loại Methamphetamine.
  • Tinh thể màu nâu trong 01 ống thủy tinh (Ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0955 (không phẩy không chín năm năm gam), loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 105/CT-VKS-CC ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm 06 tháng tù.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
    • Về xử lý vật chứng:
      • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 141/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh).
      • Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại Nokia, số imei 1: 353182111960760/58, số imei 2: 353182111960778/58.
  • Bị cáo không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi.
  • Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, bị cáo Nguyễn Hữu P đã đi bộ từ nhà đến khu vực nghĩa địa thuộc ấp T, xã T, huyện C để mua 01 gói ma túy về để sử dụng. Sau khi về đến nhà, bị cáo P đã chiết một ít vào bộ dụng cụ để sử dụng ma túy và rủ rê Bạch Thị Thùy N, Trần Văn T1, Nguyễn Minh N1Trương Thị Tuyết N2 cùng sử dụng chung. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, Công an kiểm tra hành chính, thu giữ của P số ma túy còn lại và bộ D dùng để sử dụng ma túy.

Theo Kết luận giám định số 320/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H thì số ma túy thu giữ của Nguyễn Hữu P là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 0,1992 gam, loại Methamphetamine.

Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hữu P đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255; và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, phát sinh các tệ nạn khác trong xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 nên cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói niêm phong mang số vụ 141/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên: Đây là vật cấm lưu hành nên cần tiêu hủy.

Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh) là công cụ phạm tội nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia, số imei 1: 353182111960760/58, số imei 2: 353182111960778/58, bị cáo P khai dùng để liên lạc với gia đình và bạn bè, không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo xin lại nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

[7] Đối với đối tượng tên L1 (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo P, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

[8] Đối với Bạch Thị Thùy N, Nguyễn Minh N1, Trần Văn T1Trương Thị Tuyết N2 không biết việc bị cáo P tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự. Qua xét nghiệm Bạch Thị Thùy N, Nguyễn Minh N1Trần Văn T1 dương tính với ma túy nên đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy xử lý như trên là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hữu P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 8 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 141/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống hút thủy tinh).

    Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số imei 1: 353182111960760/58, số imei 2: 353182111960778/58

    (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 43/PNK ngày 28/02/2024)

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND HCC;
  • - Chi cục THADS HCC;
  • - THAHS;
  • - Phòng PC53 Công an TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Phương phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger