Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THỦY

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 124/2023/DS-ST

Ngày: 27 – 12 – 2023

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Hà.
  2. Ông Nguyễn Việt Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy tham gia phiên toà: Ông Tạ Bá Nhịn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số: 30/2023/TLST-DSST ngày 13/01/2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 581/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 596/2023/QĐST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ. Trụ sở: Số A, P, phường C, quận P, thành phố Hồ Chí Minh là nguyên đơn. Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chủ tịch HĐ quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thanh T1 – Tổng giám đốc. Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh C, P. Đại chỉ: Lô A, KCN T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Ủy quyền cho: Bà Hoàng Thị Mộng T2 – Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh C, P. Bà T2 ủy quyền cho anh Trần Quốc T3 – Nhân viên KHCN. Địa chỉ: Lô A, KCN T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ (Có mặt).

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số F, khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Minh T4, sinh năm 1976. Địa chỉ thường trú: H, H, Thanh Hóa. Địa chỉ tạm trú: Số F, khu vực 01, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/7/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 14/08/2014, Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh C, phòng G (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng Đ) có giải quyết cho bà Huỳnh Thị D vay vốn theo kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/8/2014, đợt vay: 0125585301T14011 được duyệt ngày 14/08/2014 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Thời hạn vay: 12 tháng (Từ ngày 14/8/2014 đến hạn ngày 14/08/2015). Lãi suất vay: 10.2%/năm (360 ngày), tương đương 0.85%/tháng. Lãi quá hạn: 15.3/năm (360 ngày), tương đương 1.28%/tháng. Số tiền góp hàng tháng (kỳ): 11 tháng đầu: 1.837.000 đồng, tháng cuối: 1.833.000 đồng. Biện pháp bảo đảm: tín chấp (không có bảo đảm). Người bảo lãnh là Trần Minh T4.

Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Ngân hàng Đ tính đến ngày 12/11/2023: 12.731.154 đồng. Trong đó, gốc: 10.138.846 đồng, lãi trong hạn: 1.046.154 đồng, lãi quá hạn: 1.546.154 đồng. Bà D không thanh toán thêm cho Ngân hàng Đ bất cứ khoản nào nữa mặc dù Ngân hàng Đ đã nhắc nợ nhiều lần.

Do vậy, Ngân hàng Đ đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy buộc bà D phải thanh toán tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 12/11/2023 là 23.541.958 đồng. Trong đó, gốc là 9.861.154 đồng, lãi trong hạn 993.846 đồng, lãi quá hạn 12.686.958 đồng. Yêu cầu tính lãi tiếp theo từ ngày 13/11/2023 theo giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/8/2014, đợt vay: 0125585301T14011 được duyệt ngày 14/08/2014 cho đến khi thanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng Đ.

* Suốt quá trình giải quyết vụ án cho đến khi xét xử bà D và ông T4 vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa hôm nay,

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tính đến ngày 26/12/2023 bị đơn còn nợ Ngân hàng Đ số tiền 23.726.361 đồng, trong đó vốn: 9.861.000 đồng, lãi trong hạn: 993.846, lãi quá hạn: 12.871.361 đồng. Và chịu lãi tiếp theo kể từ ngày 27/12/2023 cho đến khi bà Huỳnh Thị D thanh toán xong toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.

- Bị đơn; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy phát biểu ý kiến:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tiến hành hòa giải, công khai chứng cứ, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thời hạn chuẩn bị xét xử: vi phạm quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định tại Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: thự hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về giải quyết vụ án: Căn cứ giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước nhận nợ ngày 14/08/2014 thì bị đơn có vay của Ngân hàng TMCP Đ - CN Cần Thơ – P như sau: số tiền vay 20.000.000 đồng. Thời hạn vay: 12 tháng (từ 14/08/2014 đến hạn ngày 14/08/2015). Lãi suất vay: 10,2 %/năm (360 ngày). Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn buôn bán. Biện pháp đảm bảo: Tín chấp (không có tài sản đảm bảo). Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã thanh toán cho ngân hàng được 06 kỳ với số tiền: gốc10.138.846 đồng, lãi 2.592.308 đồng (lãi trong hạn 1.046.154 đồng, lãi quá hạn .1546.154 đồng). Sau đó bị đơn không tiếp tục thanh toán cho ngân hàng tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Ngày 12/01/2021 Ngân hàng đã làm việc với bị đơn về việc giải quyết nợ quá hạn, bị đơn còn nợ tiền gốc 9.861.154 đồng, lãi là 10.415.874 đồng, đồng thời do hoàn cảnh khó khăn nên bị đơn cam kết sẽ trả hàng tháng 500.000 đồng cho đến khi hết nợ bắt đầu từ 20/01/2021 (âm lịch). Tuy nhiên bị đơn không thực hiện. Tính đến ngày 26/12/2023 bị đơn còn nợ Ngân hàng số tiền 23.726.361 đồng, trong đó vốn: 9.861.000 đồng, lãi trong hạn: 993.846, lãi quá hạn: 12.871.361 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả tổng số tiền 23.726.361 đồng, trong đó vốn: 9.861.000 đồng, lãi trong hạn: 993.846, lãi quá hạn: 12.871.361 đồng tính đến ngày 26/12/2023. Và chịu lãi tiếp theo kể từ ngày 27/12/2023 cho đến khi bà Huỳnh Thị D thanh toán xong toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP Đ theo kiêm khế ước nhận nợ đã ký.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý: Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 11/7/2022, thể hiện Ngân hàng Đ có cho bà Huỳnh Thị D vay vốn theo kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/8/2014, đợt vay: 0125585301T14011 được duyệt ngày 14/08/2014 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Bị đơn chỉ trả nợ cho Ngân hàng Đ tính đến ngày 12/11/2023: 12.731.154 đồng. Trong đó, gốc: 10.138.846 đồng, lãi trong hạn: 1.046.154 đồng, lãi quá hạn: 1.546.154 đồng. Bà D không thanh toán thêm cho Ngân hàng Đ bất cứ khoản nào nữa mặc dù Ngân hàng Đ đã nhắc nợ nhiều lần. Do đó xác định đây là loại kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ tại quận B, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:Huỳnh Thị D và ông Trần Minh T4 đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án này thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không lý do. Theo giấy yêu cầu xác minh số 472/2023/GYC.TA ngày 11/7/2023 tại Công an phường T, quận B, thành phố Cần Thơ, bà D và ông T4 có đăng ký thường trú tại địa chỉ số F, khu vực A, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông T4 là phù hợp quy định của pháp luật.

[3] Về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện: Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2023 Ngân hàng Đ có nộp đơn qua đường bưu điện thể hiện nội dung trong trường hợp bà Huỳnh Thị D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Đ thì yêu cầu buộc người bão lãnh là ông Trần Minh T4 trả nợ thay bà Huỳnh Thị D. Tuy nhiên, ngày 13/11/2023 Ngân hàng Đ rút lại yêu cầu. Do đó, Tòa án không đặt ra xem xét đối với nội dung này.

[4] Về thủ tục và xác định tư cách đương sự trong vụ án: Căn cứ theo Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định Ngân hàng Đ là nguyên đơn. bà Huỳnh Thị D là bị đơn. ông Trần Minh T4 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn đề ngày 11/7/2022 và vay vốn theo kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/8/2014, đợt vay: 0125585301T14011 được duyệt ngày 14/08/2014 cho thấy giữa nguyên đơn và bị đơn có giao dịch cho vay. Theo hợp đồng thể hiện bị đơn vay của Ngân hàng Đ số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) (Từ ngày 14/8/2014 đến hạn ngày 14/08/2015). Lãi suất vay: 10.2%/năm (360 ngày), tương đương 0.85%/tháng. Lãi quá hạn: 15.3/năm (360 ngày), tương đương 1.28%/tháng. Số tiền góp hàng tháng (kỳ): 11 tháng đầu: 1.837.000 đồng, tháng cuối: 1.833.000 đồng. Biện pháp bảo đảm: tín chấp (không có bảo đảm). Người bảo lãnh là Trần Minh T4.

Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho ngân hàng Đ tính đến ngày 12/11/2023: 12.731.154 đồng. Trong đó, gốc: 10.138.846 đồng, lãi trong hạn: 1.046.154 đồng, lãi quá hạn: 1.546.154 đồng. Bà D không thanh toán thêm cho Ngân hàng Đ bất cứ khoản nào nữa mặc dù Ngân hàng Đ đã nhắc nợ nhiều lần. Do vậy, Ngân hàng Đ đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy buộc bà D phải thanh toán tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 12/11/2023 là 23.541.958 đồng. Trong đó, gốc là 9.861.154 đồng, lãi trong hạn 993.846 đồng, lãi quá hạn 12.686.958 đồng. Yêu cầu tính lãi tiếp theo từ ngày 13/11/2023 theo giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/8/2014, đợt vay: 0125585301T14011 được duyệt ngày 14/08/2014 cho đến khi thanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng Đ.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà Huỳnh Thị D và ông Trần Minh T4 để tự khai, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng đương sự không đến Tòa và không cử đại diện hợp pháp đến Tòa án theo giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng. Đồng thời, bị đơn bà Huỳnh Thị D và ông Trần Minh T4 cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cũng như cung cấp các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho quyền lợi của mình. Điều này xem như bị đơn bà Huỳnh Thị D và ông Trần Minh T4 đã từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình được pháp luật bảo vệ theo điều 6 và điều 24 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng khác có trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án.

Căn cứ lời khai của đương sự, các tài liệu chứng cứ đã được thu thập được. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[6] Từ những phân tích nêu trên và xét quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát là thống nhất với quan điểm của Hội đồng xét xử và phù hợp theo quy định của pháp luật nên ghi nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đối với bị đơn bà Huỳnh Thị D.

Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị D phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số nợ gốc và lãi còn lại là số tiền 23.726.361 đồng (Hai mươi ba triệu, bảy trăm hai mưới sáu ngàn, ba trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó gốc: 9.861.000 đồng (Chín triệu, tám trăm sáu mưới mốt ngàn đồng), lãi trong hạn: 993.846 (Chín trăm chín ba ngàn, tăm trăm bốn mươi sáu đồng), lãi quá hạn: 12.871.361 đồng (Mười hai triệu, tám trăm bảy mươi mốt ngàn, ba trăm sáu mươi mốt đồng) (Tính đến ngày 26/12/2023).

Trường hợp bà Huỳnh Thị D không tự nguyện thi hành án đúng hạn thì bà Huỳnh Thị D còn phải thanh toán thêm cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền lãi chậm trả theo lãi suất đã thỏa thuận trong vay vốn theo kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/8/2014, đợt vay: 0125585301T14011 được duyệt ngày 14/08/2014 trên toàn bộ số tiền trả chậm kể từ ngày 27/12/2023 cho đến ngày bà Huỳnh Thị D thanh toán xong toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Huỳnh Thị D phải chịu 1.186.000 đồng (Một triệu, một trăm tám mưới sáu ngàn đồng).

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ được nhận lại 537.331 đồng (Năm trăm ba mươi bảy ngàn, ba trăm ba mươi mốt đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002964 ngày 06-01-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Cần Thơ;
  • - Viện kiểm sát ND Q. Bình Thuỷ;
  • - Chi cục THADS Q. Bình Thuỷ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Hồng Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2023/DS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 124/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger