|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 124/2023/HNGĐ-ST Ngày 26-12-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Nhàn
Ông Phạm Văn Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 64/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 85/2023/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn Đính; nơi cư trú: Thôn 7, xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Vũ Thị Hồng Huệ; đăng ký thường trú: Thôn 7, xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; tạm trú tại: Số 212, L24, khu chung cư Hoàng Huy, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Vũ Văn Đính trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn Đính và chị Vũ Thị Hồng Huệ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 16/1/2017. Quá trình chung sống, anh Đính và chị Huệ phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung. Mâu thuẫn trầm trọng, không hoà giải được nên anh và chị Huệ đã sống ly thân. Anh Đính xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn chị Vũ Thị Hồng Huệ.
- Về con chung: Anh Vũ Văn Đính và chị Vũ Thị Hồng Huệ có một con chung là Vũ Minh Nhật, sinh ngày 07/11/2018, hiện đang sống chung với chị Huệ. Anh đồng ý để cho chị Huệ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng hai triệu đồng kể từ ngày xét xử sơ thẩm.
- Về tài sản chung: Anh Vũ Văn Đính không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Vũ Thị Hồng Huệ trình bày ý kiến: Chị xác nhận việc kết hôn và mâu thuẫn xảy ra giữa hai vợ chồng như anh Đính trình bày. Do mâu thuẫn trầm trọng nên hai bên đã sống ly thân mấy năm nay, không ai quan tâm ai. Tuy nhiên, chị chỉ đồng ý ly hôn nếu anh Đính đồng ý cấp dưỡng nuôi con và thanh toán cho chị một nửa chi phí khám chữa bệnh, điều trị cho con chung của anh chị từ trước đến nay.
Về con chung: Chị xác nhận chị và anh Đính có 01 con chung là Vũ Minh Nhật, sinh ngày 07/11/2018, hiện đang sống chung với chị Huệ. Từ khi chị và anh Đính ly hôn đến nay, theo chị trình bày, anh Đính và gia đình bên nội không có trách nhiệm gì. Chị yêu cầu anh Đính phải cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng và thanh toán cho chị một nửa chi phí khám chữa bệnh, điều trị cho con chung của anh chị từ trước đến nay.
Về tài sản chung: Chị Huệ xác nhận chị và anh Đính không có tài sản chung.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho anh Vũ Văn Đính ly hôn chị Vũ Thị Hồng Huệ. Giao con Vũ Minh Nhật, sinh ngày 07/11/2018 cho chị Huệ trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con theo qui định của pháp luật. Chị Huệ đề nghị giải quyết chi phí khám chữa bệnh cho con nhưng không đến Toà án làm việc, không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Về án phí: Anh Vũ Văn Đính phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Vũ Văn Đính khởi kiện xin ly hôn bị đơn là chị Vũ Thị Hồng Huệ khi ly hôn trú tại Số 212, L24, khu chung cư Hoàng Huy, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Nếu chị Huệ có thay đổi nơi ở thì phải có trách nhiệm cung cấp địa chỉ nơi ở mới cho Tòa án biết.Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đính vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Huệ vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nên căn cứ các điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Đính và chị Huệ.
[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Vũ Văn Đính và chị Vũ Thị Hồng Huệ đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 16/1/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Vũ Văn Đính được ly hôn chị Vũ Thị Hồng Huệ.
[3]. Về con chung: Anh Vũ Văn Đính và chị Vũ Thị Hồng Huệ có một con chung là Vũ Minh Nhật, sinh ngày 07/11/2018, hiện đang sống chung với chị Huệ. Để đảm bảo quyền lợi của con chung, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của đương sự thì giao con cho chị Huệ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Huệ yêu cầu anh Đính cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng.Anh Đính đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Huệ yêu cầu anh Đính thanh toán cho chị một nửa chi phí khám chữa bệnh, điều trị cho con chung của anh chị từ trước đến nay nhưng không đưa ra số tiền cụ thể, không đến Toà án làm việc theo giấy triệu tập, không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp các đương sự có yêu cầu đề nghị gì thì có thể khởi kiện giải quyết bằng một vụ án khác.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4]. Về tài sản chung: Anh Đính và chị Huệ không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Đính phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về hôn nhân: Anh Vũ Văn Đính được ly hôn chị Vũ Thị Hồng Huệ.
- Về con chung: Anh Vũ Văn Đính và chị Vũ Thị Hồng Huệ có một con chung là Vũ Minh Nhật, sinh ngày 07/11/2018. Giao con chung cho chị Huệ trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh Vũ Văn Đính cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo qui định của pháp luật.
Đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con nêu trên, kể từ khi quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Vũ Văn Đính phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0004547 ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Anh Đính phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Văn Đính, chị Vũ Thị Hồng Huệ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Lý |
5
Bản án số 124/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 124/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Đ ly hôn chị H
