Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày 26 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Kim Hoàn

Bà Mai Thị Hiền

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 với các bị cáo:

1. PHẠM THU H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 28 tháng 9 năm 1993 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Số nhà A, đường H, tổ G, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đức T và bà Phạm Thị H. Bị cáo có chồng là Chu Đ (Đã ly hôn), bị cáo có 01 con sinh năm 2012;

Tiền án: 01. Tại bản án số 66/2021/HS-ST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 25/12/2022 chấp hành xong án phạt tù, đến nay chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/5/2024, tạm giam ngày 25/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

2. LÊ MINH L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24 tháng 4 năm 1979 tại huyên N, tỉnh Thanh Hóa; Đăng ký thường trú: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi ở trước khi bị bắt: Số nhà A, đường L, tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T1. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thúy N1, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/5/2024, tạm giam ngày 24/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

3. NGUYỄN VĂN T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1992 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú: Tổ C, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T2 (Đã chết) và bà Trịnh Thị M. Bị cáo có vợ là Vi Thị H1, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/5/2024, tạm giam ngày 24/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 18/5/2024, Phạm Thu H2 đang ở số nhà A, đường H, tổ G, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì nảy sinh ý định đi mua ma túy hồng phiến về để bán kiếm lời. Sau đó, Phạm Thu H2 điều khiển xe máy điện, biển kiểm soát 24MD1 – 109.74 đi đến khu vực đầu cầu K thuộc tổ B, phường K, thành phố L để tìm mua ma túy. Tại đây Phạm Thu H2 gặp một người nam giới không quen biết và hỏi mua 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn) ma tuý và nhận được 01 túi nilon có mép miết, bên trong chứa 07 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh. Sau khi mua được ma túy Phạm Thu H2 cầm số ma túy và tiếp tục đi làm. Đến khoảng 18 giờ 47 phút, bị cáo Phạm Thu H2 nhận được điện thoại của Lê Minh L gọi hỏi mua ma túy hồng phiến với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn), Phạm Thu H2 đồng ý. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T3 đến phòng trọ của Lê Minh L chơi, trong khi ngồi chơi Lê Minh L rủ Nguyễn Văn T3 góp tiền mua 500.000 đồng ma túy về chơi, Nguyễn Văn T3 đồng ý và dùng điện thoại chuyển số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn) trong tài khoản của mình sang tài khoản của Lê Minh L. Đến 20 giờ 47 phút, Phạm Thu H2 hẹn Lê Minh L ra đường P, phường C, thành phố L để đưa ma túy. Khi gặp nhau Phạm Thu H2 lấy túi nilon chứa 07 viên ma túy hồng phiến đưa cho Lê Minh L, Lê Minh L nhận túi ma túy và nói “Để anh chuyển khoản sau”, sau khi mua bán ma túy xong, Phạm Thu H2 điều khiển xe quay về chỗ làm, còn Lê Minh L điều khiển xe đi về phòng trọ. Khoảng 21 giờ cùng ngày khi Lê Minh L vừa về đến hành lang phòng trọ đưa lại túi ma túy vừa mua được cho Nguyễn Văn T3 cầm, thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L bắt quả tang và thu giữ 01 túi nilon màu trắng có mép miết, bên trong chứa 07 viên nén hình tròn màu hồng, trên một mặt của mỗi viên đều được dập chìm chữ “WY” và 01 viên nén hình tròn màu xanh, trên một mặt được dập chìm chữ “A”, Nguyễn Văn T3 khai nhận các viên nén màu hồng là ma túy hồng phiến Nguyễn Văn T3Lê Minh L cùng nhau góp tiền mua được mang về để sử dụng cho bản thân.

Ngoài ra còn tạm giữ của Lê Minh L 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 21E1 - 056.87 (xe đã qua sử dụng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng; tạm giữ của Nguyễn Văn T3 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng.

Khoảng 22 giờ ngày 18/5/2024, Phạm Thu H2 điều khiển xe từ nơi làm việc đi về nhà khi đi đến đường Đ, tổ C, phường C, thành phố L thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L phát hiện kiểm tra hành chính, quá trình kiểm tra Phạm Thu H2 khai nhận trước đó đã bán ma túy hồng phiến cho Lê Minh L với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn) nhưng Lê Minh L chưa kịp chuyển tiền cho Phạm Thu H2. Quá trình làm việc đã tạm giữ của Phạm Thu H2 01 xe máy điện biển kiểm soát 24MD1 - 109.74 (xe đã qua sử dụng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi đã qua sử dụng.

Ngày 19/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thu H2 tại số nhà A, đường H, tổ G, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Kết luận giám định số 206/GĐMT ngày 21/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: Các viên nén hình trụ tròn thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn T3, Lê Minh L ngày 18/5/2024, gửi giám định: 0,711 gam 07 viên nén hình trụ tròn màu hồng là chất ma túy Methamphetamine; 0,105 gam 01 viên nén hình trụ tròn màu xanh không tìm thấy chất ma túy.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.

Cáo trạng số 120/CT-VKS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Phạm Thu H2 về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Lê Minh L, Nguyễn Văn T3 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thu H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thu H2 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Minh L, Nguyễn Văn T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Minh L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng vụ án, T3 án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 18/5/2024, bị cáo Lê Minh L đã có hành vi trực tiếp mua 0,711 gam Methamphetamine của Phạm Thu H2, bị cáo Nguyễn Văn T3 đã có hành vi bàn bạc và chuyển tiền cho Lê Minh L để mua 0,711 gam Methamphetamine về để cùng sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang; Bị cáo Phạm Thu H2 đã có hành vi bán 0,711 gam ma túy Methamphetamine cho Lê Minh L với giá 500.000 đồng nhằm mục đích để kiếm lời, do đó, bị cáo Phạm Thu H2 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy đã bán cho Lê Minh L là 0,711 gam. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Phạm Thu H2 đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Lê Minh L, Nguyễn Văn T3 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo thiếu ý thức chấp hành, cố ý thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội

[4] Về vai trò của các bị cáo:

Đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn, quá trình phạm tội không có sự tổ chức, câu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Bị cáo Lê Minh L là người khởi xướng và trực tiếp liên hệ mua ma túy về sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò là người khởi xướng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong vụ án. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T3 là người chuyển tiền cho bị cáo Lê Minh L để mua ma túy về cùng sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò sau bị cáo Lê Minh L.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Thu H2 có 01 tiền án tại bản án số 66/2021/HS-ST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 25/12/2022 chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xoá án tích. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Lê Minh L, Nguyễn Văn T3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật. Ngoài ra, bị cáo Phạm Thu H2 có ông là Phạm Trọng T4 được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định pháp luật.

Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu. Bị cáo Lê Minh LNguyễn Văn T3 là người thường xuyên sử dụng chất ma tuý.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án: Đối với số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) bị cáo Nguyễn Văn T3 đã chuyển vào tài khoản của Lê Minh L để góp tiền mua ma túy, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra lệnh phong tỏa tài khoản số tiền trên tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q chi nhánh L1 nên cần gỡ phong tỏa và tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với xe máy điện biển kiểm soát, 24MĐ1 - 109.74, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của chị Phạm Thị H, là mẹ đẻ của bị cáo Phạm Thu H2. Ngày 18/5/2024, Phạm Thu H2 sử dụng chiếc xe để đi mua bán ma túy chị Phạm Thị H không biết và không tham gia cùng nên ngày 14/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại chiếc xe trên cho chị H là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA Air Blade, biển kiểm soát 21 E1 - 056.87 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của chị Lý Thị Minh B. Ngày 18/5/2024, Lê Minh L tự ý sử dụng xe đi mua ma túy, chị Lý Thị Minh B không biết và không tham gia. Ngày 14/8/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Lý Thị Minh B là phù hợp.

Đối với 0,417 (không phẩy bốn trăm mười bảy) gam Methamphetamine còn lại sau giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,067 gam viên nén màu xanh còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn T3, Lê Minh L ngày 18/5/2024 là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI 1: 869945068204110 gắn 02 thẻ sim (đã qua sử dụng) tạm giữ của Lê Minh L, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI 1: 865924046803214 gắn thẻ sim (đã qua sử dụng) tạm giữ của Nguyễn Văn T3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, số IMEI: 867584061518267 (đã qua sử dụng) tạm giữ của Phạm Thu H2 ngày 18/5/2024 là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;

[8] Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Phạm Thu H2, ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh. Do vậy, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau;

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Thu H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Phạm Thu H2 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 19/5/2024.
    Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Lê Minh L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù của các bị cáo tính từ ngày bắt tạm giữ 18/5/2024.
  2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    Tịch thu tiêu hủy 0,417 (Không phẩy bốn trăm mười bảy) gam Methamphetamine; 0,067 gam chất bột khô màu xanh còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn T3Lê Minh L ngày 18/5/2024 tại tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai”.
    Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI 1: 869945068204110 gắn 02 thẻ sim (đã qua sử dụng) tạm giữ của Lê Minh L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI 1: 865924046803214 gắn 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) tạm giữ của Nguyễn Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, số IMEI: 867584061518267 (đã qua sử dụng) tạm giữ của Phạm Thu H2;
    (Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/9/2024)
    Giải tỏa lệnh phong tỏa tài sản số 646/LPT-ĐKTMT ngày 13/8/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng được gửi tại số tài khoản 1234456745678 mang tên Lê Minh L tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q chi nhánh Lào Cai
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai (1);
  • - TAND tỉnh Lào Cai (1);
  • - VKSND TP. Lào Cai (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - CQCSĐT CATP (1);
  • - Bị cáo (3);
  • - THA DS TP. Lào Cai (1);
  • - HS THA HS (1);
  • - Lưu văn phòng (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PHẠM THU H CÙNG ĐỒNG BỌN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger