Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:124/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/4/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm

Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 72/2024/HNGĐ-TLST ngày 21/02/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/QĐ-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 03/10/1990.

    HKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở : Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    Đang lao động tại : Đài Loan.

  2. Bị đơn : Anh Trần Văn H, sinh ngày 16/8/1988.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Đang lao động tại: Đài Loan.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963.

    Địa chỉ : Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương.

( Chị T, anh H, bà T1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn H tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 14/01/2011. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian. Đến năm 2013 chị và anh H đều sang Đài Loan lao động, nhưng mỗi người sống một nơi. Thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc, qua lại thăm gặp nhau, vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung, anh chị đã chấm dứt liên lạc từ năm 2019. Đầu năm 2024 chị về Việt Nam thăm gia đình và có trao đổi nội dung ly hôn, anh H cũng đồng ý. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về quan hệ con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Trần Thị Quỳnh C sinh ngày 16/01/2012. Trong thời gian chị và anh H lao động ở nước ngoài, cháu C được ông bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con, chị ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1 chăm sóc cháu C trong thời gian chị không ở Việt Nam. Chị tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh H không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Anh Trần Văn H hiện nay đang lao động tại Đài Loan, do chị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh H nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh H thông qua gia đình. Ông Trần Văn Q là bố đẻ của anh H xác định, năm 2013 anh H sang Đài Loan lao động, từ khi đi anh H về Việt Nam nhiều lần, lần về gần nhất vào năm 2019. Địa chỉ của anh H ở nước ngoài gia đình không biết, nhưng anh H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông được biết giữa chị T, anh H có xảy ra mâu thuẫn ở Đài Loan, tết năm 2024 chị T về Việt Nam nhưng không về nhà chồng. Ông Q đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh H biết. Thông qua gia đình anh H thể hiện quan điểm: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, từ lâu hai bên không còn quan tâm đến nhau, nay chị T có đơn ly hôn anh đồng ý. Về con chung anh và chị T có một con chung là Trần Thị Quỳnh C, ly hôn anh tôn trọng nguyện vọng của con, nếu cháu có nguyện vọng được ở với mẹ anh cũng đồng ý. Tuy nhiên khi đón cháu C về chăm sóc, gia đình chị T phải xuống gia đình anh nói chuyện để hai bên lập biên bản giao cho gia đình chị T nuôi cháu C. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh chưa thể về Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bố đẻ nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của chị T, bà đồng ý nhận ủy quyền của chị T về việc chăm sóc cháu Trần Thị Quỳnh C trong thời gian chị T không ở Việt Nam. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Cháu Trần Thị Quỳnh C là con chung của chị T, anh H có nguyện vọng được ở với mẹ và bà ngoại khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị T được ly hôn anh H. Về con chung: Giao con chung Trần Thị Quỳnh C sinh ngày 16/01/2012 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu C, cho bà Nguyễn Thị T1 chăm sóc. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại: Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Anh Trần Văn H có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại:Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện chị T, anh H đều đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Chị Nguyễn Thị T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T1 chăm sóc cháu C trong thời gian chị không ở Việt Nam nên Tòa án xác định bà T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Chị T, anh H, bà T1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 14/01/2011, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù chị T, anh H đều ở Đài Loan nhưng cả hai không quan tâm, liên lạc với nhau. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh H. Quá trình giải quyết vụ án, anh H cũng có quan điểm xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn và đồng ý ly hôn chị T. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn H có một con chung là Trần Thị Quỳnh C sinh ngày 16/01/2012. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con, thông qua gia đình anh H cũng có quan điểm đồng ý. Xét thấy, hiện tại chị T và anh H đều đang ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp nuôi con, cháu C đang sống cùng ông bà nội, tuy nhiên cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy để đảm bảo quyền lợi, cũng như nguyện vọng, thỏa thuận của các bên, giao cháu C cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu C cho bà Nguyễn Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Trần Văn H
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Trần Thị Quỳnh C, sinh ngày 16/01/2012 cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Anh Trần Văn H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Tạm giao cháu C cho bà Nguyễn Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị T không ở Việt Nam.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000473 ngày 21 tháng 02 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bà Nguyễn Thị T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Thanh Hải;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 124/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger