Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 124/2023/HS-ST

Ngày: 23-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vừ Thị Hoa; Ông Đinh Xuân Thủy.
Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông La Văn Xôm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2023/TLST- HS, ngày 03 tháng 8 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST- HS, ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Lò Văn Ph, sinh ngày 18/3/1997 tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản Ch Ch, xã Th Th, huyện T U, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn B, sinh năm 1976 và bà: Lò Thị H, sinh năm 1978; Bị cáo có vợ là: Bùi Thị Bích Ph, sinh năm 1996; Bị cáo có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ 23 giờ 20 phút ngày 16/5/2013, tạm giam từ ngày 25/5/2023, đến ngày 30/5/2023 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. (Nay có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đồng Minh C, sinh năm 1961; Địa chỉ: Bản Ngã Ba, xã Mường Kim, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ dân phố Trại Giữa, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt có lý do).

- Người làm chứng:

  1. chị Lý Thị M, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu 12, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
  2. chị Hoàng Thị V, sinh năm 1997; Địa chỉ: Khu Sận, xã Tân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  3. chị Hà Thị V1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu Chiềng 2, xã Lai Đồng, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  4. chị Đinh Thị Nh, sinh năm 1990; Địa chỉ: Xóm Thung, xã Suối Hoa, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
  5. anh Lò Văn S, sinh năm 1979; Địa chỉ: Bản Xuân Phương, xã Mường Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
  6. anh Lù Văn D, sinh năm 1988; Địa chỉ: Bản Mỳ, xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. ( Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2012, bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969, trú tại tổ dân phố Tr G, thị trấn T A, huyện Y D, tỉnh B G thuê nhà của ông Đồng Minh C, sinh năm 1961, trú tại bản Ngã Ba, xã Mường Kim, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu để mở quán bán cà phê Việt Thanh. Đến tháng 10 năm 2022, bà Nguyễn Thị H chuyển về B G sinh sống nên thuê Lò Văn Ph trông coi, quản lý việc kinh doanh tẩm quất, mát xa và bán cà phê tại quán cà phê Việt Thanh. Mỗi tháng, Ph được bà H trả số tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Đến ngày 13/5/2023, Hoàng Thị V, sinh năm 1997, trú tại khu Sận, xã Tân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cùng Hà Thị V1, sinh năm 1985, trú tại khu Chiềng 2, xã Lai Đồng, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đến quán cà phê xin làm nhân viên bưng bê cà phê và tẩm quất, mát xa cho khách. Khi V và V1 đến, tại quán cà phê Việt Thanh có hai nhân viên nữa đã làm từ trước là Đinh Thị Nh, sinh năm 1990, trú tại xóm Thung, xã Suối Hoa, huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình và Lý Thị M, sinh năm 1999, trú tại khu 12, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Tại quán cà phê Việt Thanh, V, V1, Nh, M được Lò Văn Ph sắp xếp cho mỗi người ở một Ph riêng để ở và hằng ngày tẩm quất, mát xa cho khách. Mỗi một khách đến tẩm quất, mát xa, Ph sẽ thu số tiền 150.000 đồng, Ph trả cho nhân viên 70.000 đồng, còn 80.000 đồng Ph giữ lại. Trong thời gian kinh doanh, do có nhiều khách Nam giới đến quán hỏi mua dâm nên Lò Văn Ph đã bàn, thống nhất với Hoàng Thị V: nếu có khách đến mua dâm thì Viện sẽ bán dâm, mỗi khách đến mua dâm Ph sẽ thu 350.000 đồng, số tiền này Ph chia cho V 150.000 đồn, còn Ph giữ lại 200.000 đồng. Việc thỏa thuận giữ Ph và V, Ph không nói cho bà Nguyễn Thị H chủ quán biết.

Đến khoảng 22 giờ 16/5/2023, Lò Văn S, sinh năm 1979, trú tại bản Xuân Phương, xã Mường Than, huyện Than Uyên và Lù Văn D, sinh năm 1988, trú tại bản Mỳ, xã Ta Gia, huyện Than Uyên cùng đến quán uống cà phê. Sau đó, Lò Văn S hỏi mua dâm. Do đã bàn bạc trước với Hoàng Thị V, Ph thu của S số tiền 350.000 đồng, rồi chỉ cho S vào Ph của Hoàng Thị V tại quán cà phê Việt Thanh để mua, bán dâm. Đến hồi 22 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác của Công an huyện Than Uyên đến kiểm tra hành chính quán cà phê Việt Thanh thì phát hiện tại Ph ở của Hoàng Thị V có Lò Văn S cùng Hoàng Thị V đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Công an huyện Than Uyên đã lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ: 01 vỏ bao cao su đã bị xé rách, mặt ngoài có dòng chữ “Vip condom nilon” màu vàng trắng, mặt sau có ký tự “20PN34”; 01 bao cao su (đã qua sử dụng). Khám xét khẩn cấp quán cà phê Việt Thanh thu giữ số tiền 2.980.000 đồng tại ngăn kéo bàn quầy bán cà phê, trong đó có 350.000 đồng là tiền Lò Văn Ph thu của Lò Văn S khi đến mua dâm Hoàng Thị V và 2.630.000 đồng là tiền bán cà phê và tiền khách đến tẩm quất, mát xa (toàn bộ số tiền trên do Lò Văn Ph tự giao nộp). Ngoài ra còn thu giữ 01 đầu thu camera, nhãn hiệu Ahua màu đen, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 671/BKLGĐ-TL ngày 09/6/2023 của Ph Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số tiền 2.980.000 đồng, thu giữ của Lò Văn Ph gửi đến giám định là tiền thật.

Vật chứng của vụ án gồm:

01 vỏ bao cao su đã bị xé rách, mặt ngoài có dòng chữ “Vip condom nilon” màu vàng trắng, mặt sau có ký tự “20PN34"; 01 bao cao su đã qua sử dụng; số tiền 2.980.000 đồng; 01 đầu thu camera nhãn hiệu Ahua màu đen (đã qua sử dụng).

Ngày 30/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên đã trao trả số tiền 2.630.000 đồng và 01 đầu thu camera nhãn hiệu Ahua màu đen cho bị can Lò Văn Ph do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Số vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 vỏ bao cao su đã bị xé rách, mặt ngoài có dòng chữ “Vip condom nilon” màu vàng trắng, mặt sau có ký tự "20PN34"; 01 bao cao su (đã qua sử dụng) và số tiền 350.000 đồng đang được bảo quản theo quy định.

Bản cáo trạng số: 110/CT-VKS, ngày 02/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Lò Văn Ph về tội: “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn Ph từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm đến 03 năm. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 327 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao cao su, 01 bao cao su (đã qua sử dụng). Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 350.000 đồng.

Về án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khi được giao quản lý kinh doanh quán cà phê Việt Thanh tại bản Ngã Ba, xã Mường Kim, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, khoảng 22 giờ ngày 16/5/2023, Lò Văn Ph đã sắp xếp cho Hoàng Thị V (nhân viên bưng bê tại quán cà phê) và Lò Văn S, sinh năm 1979, trú tại bản Xuân Phương, xã Mường Than, huyện Than Uyên mua, bán dâm trong Ph tẩm quất mát xa tại quán cà phê Việt Thanh. Lò Văn Ph thu của Lò Văn S số tiền 350.000 đồng, Ph chia cho V 150.000 đồng, Ph thu lời bất chính 200.000 đồng. Đến hồi 22 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng Thị V và Lò Văn S bị Công an huyện Than Uyên lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi mua, bán dâm. Lò Văn Ph bị Công an huyện Than Uyên bắt quả tang về hành vi chứa mại dâm. Vật chứng thu giữ gồm: 01 vỏ bao cao su, 01 bao cao su (đã qua sử dụng) và số tiền 2.980.000 đồng, trong đó có 350.000 đồng là tiền Lò Văn Ph thu của Lò Văn S khi đến mua dâm Hoàng Thị V. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Khi được giao quản lý kinh doanh quán cà phê, để có tiền tiêu sài cá nhân, bị cáo Lò Văn Ph đã chủ động bàn bạc với chị Hoàng Thị V về việc bán dâm, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc, sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, hơn nữa bị cáo có ông nội là người có công giúp nước bạn Lào chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước, được Nhà nước Lào ghi nhận và tặng thưởng Huân chương. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ các điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn,. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 327 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Đối với ông Đồng Minh C là chủ sở hữu hợp pháp đối với nhà, đất tại quán cà phê Việt Thanh, bà Nguyễn Thị H là người thuê nhà ông C mở quán cà phê Việt Thanh. Quá trình điều tra xác định ông C và bà H không biết Lò Văn Ph chứa mại dâm tại quán cà phê Việt Thanh nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.

Đối với việc bà Nguyễn Thị H kinh doanh hoạt động tẩm quất mát xa không có giấy phép kinh doanh theo quy định, Cơ quan điều tra đã chuyển xử lý hành chính theo quy định.

[6] Về xử lý vật chứng còn lại gồm: 01 vỏ bao cao su; 01 bao cao su (đã qua sử dụng) đây là vật không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 350.000đồng thu giữ của bị cáo là tiền do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[8] Về biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh đã áp dụng đối với bị cáo Lò Văn Ph.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự;

- Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 106; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ph phạm tội: “Chứa mại dâm”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Ph 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lò Văn Ph cho UBND xã Th Th, huyện T U. Tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Th Th trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo Lò Văn Ph thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, bị cáo Lò Văn Ph cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao cao su; 01 bao cao su (đã qua sử dụng).
    • Tịch thu số tiền 350.000đồng thu giữ của bị cáo Lò Văn Ph sung ngân sách Nhà nước.

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08 tháng 8 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lò Văn Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Than Uyên;
  • - Chi cục THADS Than Uyên;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên;
  • - UBND xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Lường Xuân Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 23/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về chứa mại dâm

  • Số bản án: 124/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 1 năm 6 tháng tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger