|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 124/2024/HS-ST Ngày 22/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Kiều Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thạch.
- Ông Đặng Bên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hưng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (điểm cầu trung tâm) và tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi (điểm cầu thành phần) xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 180/2024/HSST, ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Văn M, sinh ngày 18 tháng 7 năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/6/2021; nơi đăng ký cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 00/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn văn C (đã chết) và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1955; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/5/2003, bị Tòa án nhân huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 18/HSST, đã chấp hành án xong; ngày 28/4/2004, bị Tòa án nhân dân Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 15 tháng năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 12/HSST, đã chấp hành án xong; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Thanh H, sinh ngày 29/8/2007; cư trú tại: Xóm G, thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp cho anh H: Ông Nguyễn Thanh D và bà Nguyễn Thị T1 (cha mẹ đẻ anh H); cư trú tại: Xóm G, thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; ông D có mặt, bà T1 vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Võ Anh P, sinh năm 1988; cư trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt tại phiên tòa.
- - Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990; cư trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt tại phiên tòa.
- - Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1955, cư trú tại: cư trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Chị Huỳnh Thị Yến H2, sinh năm 2004; cư trú tại: Khu dân cư S, thôn S, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 19/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn M (sau đây viết tắt là M) đến thuê phòng ngủ tại khách sạn L thuộc thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Đến khoảng 05 giờ 06 phút ngày 20/01/2024, M xuống khu vực lễ tân của khách sạn LaNa để chuẩn bị đi về thì M nhìn thấy anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 2007; đăng ký cư trú: Xóm G, thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi đang nằm ngủ và để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, loại 64 GB, màu vàng đang cắm sạc pin tại vị trí góc tường bên cạnh ghế S nên M nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Sau khi lén lút lấy được điện thoại di động của anh H, M rời khỏi khách sạn đi đến phòng trọ của em ruột là Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990; đăng ký cư trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và nhờ H1 chở đến khu vực D, thuộc thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để đón xe ô tô khách về tỉnh Đắk Nông. Khi đến khu vực D, M tiếp tục nhờ H1 chở đến cửa hàng điện thoại A P1 (cách vòng xoay Dốc Sỏi khoảng 400m) do Võ Anh P làm chủ để mở khóa điện thoại vừa trộm cắp được. Anh Võ Anh P không mở khóa được nên M đã lấy lại điện thoại nêu trên, rồi quay lại ngã ba D đón xe ô tô khách về nhà tại tỉnh Đắk Nông.
Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Nguyễn Thanh H thức dậy và phát hiện bị mất điện thoại di động có đặc điểm nêu trên nên đã trình báo sự việc cho Công an xã B. Nhận được tin báo, Công an xã B đã đến hiện trường kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ ban đầu, xác định được M là người thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại di động của anh H, vì M đã đi khỏi địa bàn xã B nên Công an xã B không làm việc được với bị cáo M. Sau đó, Công an xã B đã liên lạc, vận động M đến Công an xã B để làm rõ vụ việc. Ngày 23/01/2024, bà Huỳnh Thị T (mẹ ruột bị cáo M) đã đến Công an xã B giao nộp điện thoại mà M đã trộm cắp của anh H với lý do M sợ bị Cơ quan Công an bắt nên không dám đến trình diện.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 26/KL.HĐĐGTS ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B đã định giá tài sản như sau: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu vàng, loại 64GB, có giá trị là 8000.000 đồng (tám triệu đồng).
Bản cáo trạng số 115/CT-VKS-BS, ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thay đổi quyết định truy tố, theo đó: Qua kết quả xác minh thì thấy rằng từ ngày các bản án hình sự nêu trên có hiệu lực đến nay, người được thi hành án không có đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với nghĩa vụ bồi thường về dân sự như bản án đã tuyên. Căn cứ vào Điều 60 Bộ luật Hình sự, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, Điều 3 Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐTP, ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặt biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì đã hết thời hiệu thi hành đối với nghĩa vụ bồi thường về dân sự trong bản án hình sự số 12/HSST, ngày 28/4/2004 Tòa án nhân dân Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Do đó, bị cáo được đương nhiên xóa án tích và hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không xem xét, giải quyết;
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, loại 64GB, màu vàng, số IMEI: 352848116297918, số IMEI 2: 352848116483450, sau khi định giá tài sản Cơ quan CSĐT đã trao trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Thanh H là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với các đối tượng và hành vi có liên quan:
- + Đối với Nguyễn Văn H1: Do có mối quan hệ anh em ruột nên khi M nhờ chở đi đón xe về tỉnh Đăk Nông, Nguyễn Văn H1 đã chở bị cáo đi, không biết bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trước đó. Do đó, không có đủ căn cứ để đề nghị xem xét xử lý trách nhiệm về vai trò đồng phạm.
- + Đối với Võ Anh P: Do kinh doanh cửa hàng điện thoại nên bị cáo đã vào nhờ mở khóa điện thoại nhưng Võ Anh P không mở khóa điện thoại theo yêu cầu và không thu mua điện thoại trộm cắp nên hành vi của Võ A P không cấu thành tội phạm nên không đề nghị xử lý.
Qua tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo M thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên bị cáo cho rằng mình không bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản vào năm 2004 như cáo trạng đã nêu; bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối đáp với ý kiến của bị cáo, Kiểm sát viên xác định cơ quan điều tra đã tiến hành giám định, so sánh mẫu vân tay của bị cáo Minh in trên danh chỉ bản trong vụ án này và danh chỉ bản trong các vụ án vào năm 2003 và năm 2004 là do cùng một người in ra; kết quả xác minh thi hành án thể hiện bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án hình sự số 18/HSST, ngày 27/5/2003 và bản án hình sự số 12/HS-ST, ngày 28/4/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Mil. Do đó, ý kiến trình bày của bị cáo là không có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thu thập và người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng Hình sự.
[1.2] Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.3] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt nhưng hồ sơ vụ án cũng đã có lời khai của họ, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo M khai nhận hành vi của mình đúng như mô tả trong cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo M là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 20/01/2024, bị cáo M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, loại 64GB, màu vàng của anh Nguyễn Thanh H, trị giá tài sản mà bị cáo M đã chiếm đoạt được định giá là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) nên hành vi của bị cáo M đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi nhưng vì thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lười biến lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Ngày 27/5/2003, bị cáo đã bị Tòa án nhân huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 18/HSST; đến ngày 28/4/2004, bị cáo tiếp tục bị Tòa án nhân dân Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 15 tháng năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 12/HSST. Sau khi chấp hành xong các bản án nêu trên, lẽ ra bị cáo phải có ý thức tự cải tạo bản thân, tuân thủ pháp luật nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án này. Điều này thể hiện bị cáo không biết ăn năn hối cải, có thái độ xem thường pháp luật và không có khả năng tự cải tạo bản thân. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã hoàn trả lại tài sản cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo M được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[2.4] Xét ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo M cho rằng mình không bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil xử phạt 15 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản theo bản án số 12/HSST, ngày 28/4/2004 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil như cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định, so sánh dấu vết đường vân tay của bị cáo M trên bộ D1 bản, chỉ bản số 140 do Công an huyện B lập ngày 17/4/2024 với dấu vết đường vân tay trên bộ danh chỉ bản của bị cáo M trong 02 bản án hình sự số 18/HSST, ngày 27/5/2003 và bản án hình sự số 12/HS-ST, ngày 28/4/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Mil. Kết luận giám định số 589/KL-KTHS, ngày 26/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q xác định dấu vân tay của bị cáo Minh in trên các bộ danh bản, chỉ bản nêu trên là do của cùng một người in ra. Mặt khác, kết quả xác minh việc chấp hành hình phạt của bị cáo M tại các bản án nêu trên đều thể hiện bị cáo M đã chấp hành hình phạt tù của các bản án nêu trên tại Trại giam Đ. Do đó, việc bị cáo M cho rằng mình không bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản vào năm 2004 là không có căn cứ.
[5] Về trách nhiệm hình sự của các đối tượng khác:
[5.1] Khi bị cáo M nhờ chở đi đón xe về tỉnh Đăk Nông, Nguyễn Văn H1 đã chở bị cáo đi và không biết bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trước đó nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã không truy cứu trách nhiệm đối với Nguyễn Văn H1 là phù hợp.
[5.2] Khi bị cáo M mang điện thoại trộm cắp được đến nhờ mở khóa màn hình nhưng Võ Anh P không mở khóa điện thoại theo yêu cầu và cũng không thu mua điện thoại trộm cắp nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã không truy cứu trách nhiệm đối với Võ Anh P là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, loại 64GB, màu vàng, số IMEI: 352848116297918, số IMEI 2: 352848116483450, sau khi định giá tài sản Cơ quan CSĐT đã trao trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Thanh H là đúng quy định của pháp luật.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp hành vi, tính chất phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 02/4/2024).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Kiều Trung |
Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 124/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
