|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 124/2024/HSST Ngày: 21/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nông Thị Hương (Nghề nghiệp: Giáo viên, chức vụ: Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng).
- Ông Nông Văn Vụ (Nghề nghiệp: Hưu trí)
Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo:
- Nông Thị Huyền T; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 10/9/2004 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú: xóm B, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12 phổ thông; Con ông: Nông Văn T1, sinh năm: 1980; Con bà: Hứa Thị H, sinh năm: 1980, cùng trú tại: xóm B, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con cả; Chồng: Không có; Con: bị cáo có 01 con sinh năm 2022; Tiền sự: không; Tiền án: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Hoàng Thái S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14/11/2004 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện
nay: Tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông: Hoàng Văn H1, sinh năm 1983, trú tại: Tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con bà: Nông Thị T2, sinh năm 1985, trú tại: Xóm N, xã N, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: không có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Sầm Lan N; sinh năm: 2010 (Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Sầm Quang H2; sinh năm: 1966; Nguyễn Thị Ngọc Q; sinh năm: 1971 (Có mặt tại phiên toà)
Cùng địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Sầm Quang H2; sinh năm: 1966 (Có mặt tại phiên toà)
- Vy Văn T3; sinh năm: 1970 (Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Nông Thị T2; sinh năm: 1985 (Có mặt tại phiên toà)
- Hứa Thị H; sinh năm: 1980 (Có mặt tại phiên toà).
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: xóm Ngọc Nam, xã Ngọc Động, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng
Địa chỉ: xóm B, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Người làm chứng:
- Trần Đình T4; sinh năm: 1963 (Vắng mặt tại phiên toà, không có lý do)
- Nguyễn Thị Ngọc Q; sinh năm: 1971 (Có mặt tại phiên toà)
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 25/02/2024 tại khu vực Km55, quốc lộ C thuộc tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng xảy ra vụ tai nạn giao thông. Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát: 11B1-571.39 do Nông Thị Huyền T (sinh ngày: 10/9/2004; Trú tại: Xóm B, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) điều khiển chở Hoàng Thái S (sinh ngày: 14/11/2004; Trú tại: Tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đi từ hướng phường D về trung tâm thành phố C đã đâm vào phía trước bên trái xe mô tô do ông Sầm Quang H2 (Sinh năm: 1966; Nơi thường trú: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) điều khiển chở con gái Sầm Lan N (sinh năm: 2010; Nơi thường trú: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đang di chuyển ngược chiều. Hậu quả: Sầm Lan N bị thương ở mắt trái và gãy xương đùi trái; Nông Thị Huyền T bị gãy ngón tay 3 và 4 của bàn tay trái; Hoàng Thái S và Sầm Quang H2 bị xây sát ngoài da. Hai phương tiện bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tiếp nhận vụ việc và tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn thuộc khu vực K, đường QL34B thuộc tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, là đoạn đường thẳng, mặt đường phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, có hai chiều xe chạy riêng biệt, lòng đường rộng 7m07cm có vạch kẻ sơn vàng cách quãng phân cách giữa đường. Hiện trường được nhìn thống nhất từ trung tâm thành phố C đến D, lấy mép đường bên phải là (+), bên trái là (-). Chiều hướng của xe mô tô biển kiểm soát: 11F1-9160 từ trung tâm thành phố C đến D, chiều hướng của xe mô tô biển kiểm soát: 11B1-571.39 từ D đến thành phố C.
Lấy cột điện số 2.3 TBS đồi mát 4 tại vỉa hè bên trái hướng từ trung tâm thành phố C đến D làm điểm mốc. Ký hiệu là (ĐCĐ). (ĐCĐ) cách mép đường bên (-) là 2m30cm. Lấy vạch kẻ sơn vàng cách quãng phân cách giữa đường là (I). Lấy mép đường bên phải hướng từ trung tâm thành phố C đến D làm chuẩn để đo đạc các dấu vết. Ký hiệu là (+).
Xe mô tô biển kiểm soát 11F1-9160 sau khi xảy ra tai nạn đổ nghiêng sang bên phải. Đầu xe hướng về mép đường bên (-) chếch về D, đuôi xe hướng về lề đường bên (+) chếch về trung tâm thành phố C. Trục dưới cách mép đường bên (+) là 68cm, cách (I) là 3m15cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 10m02cm. Trục sau cách mép đường bên (+) là 30cm, cách (I) là 4mm16cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 11m12cm.
Xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39 sau khi xảy ra tai nạn đã dựng lên khỏi vị trí ban đầu, đầu xe hướng về mép đường bên (-) chếch về trung tâm thành phố C, đuôi xe hướng về mép đường bên (+) chếch về D. Trục trước cách mép
đường bên (+) là 2m98cm, cách (I) là 85cm, cách trục trước xe mô tô biển kiểm soát 11F1-9160 là 5m34cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 11m40cm. Trục sau cách mép đường bên (+) là 2m10cm, cách (I) là 1m30cm, cách trục sau xe mô tô mô tô biển kiểm soát 11F1-9160 là 4m20cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 11m56cm.
Vết (1) là vết cày màu trắng cách quãng trên mặt đường có điểm kết thúc tại phía dưới trục giảm xóc phía trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39 có chiều hướng từ Duyệt trung đến trung tâm thành phố C chếch về mép đường bên (+). Có kích thước 2m95cmx3cm. Đầu vết (1) cách mép đường bên (+) là 1m80cm, cách (I) là 1m48cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 10m30cm. Cuối vết (1) cách mép đường bên (+) là 2m93cm, cách (I) là 92cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 11m60cm.
Vết (2) là vết cày màu trắng trên mặt đường có điểm kết thúc tại phía dưới chân nhẫm trước trái xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39 có chiều hướng từ Duyệt trung đến trung tâm thành phố C chếch về mép đường bên (+). Có kích thước 1m10cmx0,5cm. Đầu vết (2) cách mép đường bên (+) là 2m12cm, cách (I) là 1m74cm, cách đầu vết (3) là 3m25cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 11m05cm. Cuối vết (2) cách mép đường bên (+) là 2m43cm, cách (I) là 1m45cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 11m71cm.
Vết (3) là vết cày màu trắng cách quãng trên mặt đường có điểm kết thúc tại phía dưới chân nhẫm trước phải xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39 có chiều hướng từ trung tâm thành phố C đến Duyệt Trung chếch về mép đường bên (+) có kích thước 52cmx0,5cm. Đầu vết (3) cách mép đường bên (+) là 46cm, cách (I) là 3m25cm, cách tâm vết (4) là 65cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 10m60cm. Cuối vết (3) cách mép đường bên (+) là 6cm, cách (I) là 3m75cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 10m80cm.
Vết (4) là vết máu trên mặt đường có kích thước 20cmx18cm. T5 vết (4) cách mép đường bên (+) là 83cm, cách (I) là 3m05cm, cách tâm vết (5) là 3m20cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 10m55cm.
Vết (5) là vết đám mảnh nhựa trên mặt đường có kích thước 7m30cmx3m48cm. T5 vết (5) cách mép đường bên (+) là 1m55cm, cách (I) là 2m35cm, cách điểm mốc (ĐCĐ) là 12m05cm.
Các dấu vết tại hiện trường phù hợp với các dấu vết tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 11F1-9160 và xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định Trưng cầu giám định số 481/QĐ-CQĐT(ĐTTH), trưng cầu Trung tâm pháp
y tỉnh C giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Sầm Lan N. Kết luận giám định số 054 ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh C, xác định: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Sầm Lan N tại thời điểm giám định là 63% (Sáu mươi ba phần trăm)".
Ngày 25 tháng 03 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra yêu cầu định giá tài sản số 505 đề nghị xác định giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39 và xe mô tô biển kiểm soát 11F1-91.60. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS, ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C xác định: Giá trị tài sản bị thiệt hại của xe mô tô BKS: 11B1-571.39 là 2.770.500đ (Hai triệu bảy trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng): Giá trị tài sản bị thiệt hại của xe mô tô BKS: 11F1-9160 là 695.000đ (Sáu trăm chín năm nghìn đồng). Tổng giá trị các tài sản bị thiệt hại là 3.465.500đ (Ba triệu bốn trăm sáu năm nghìn năm trăm đồng). Quá trình điều tra xác định: Hoàng Thái S là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39 biết rõ Nông Thị Huyền T chưa có giấy phép lái xe nhưng vẫn giao xe cho Nông Thị Huyền T điều khiển tham gia giao thông và khoảng 16 giờ 10 phút ngày 25/02/2024, Nông Thị Huyền T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 11B1-571.39 chở Hoàng Thái S di chuyển theo hướng từ nhà riêng tại phường D về trung tâm thành phố C. Khi đi đến đoạn đường trước cửa Trường mầm non T7 thuộc khu vực K, đường Q thuộc tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, T quan sát thấy có 01 (một) xe ô tô con màu trắng (không xác định được BKS) đang di chuyển cùng chiều ở phía trước T, đồng thời nhìn thấy ông Sầm Quang H2 đang điều khiển xe mô tô BKS: 11F1-9160, chở con gái là Sầm Lan N di chuyển ở làn đường ngược chiều, cách T khoảng 15-20m (mười năm đến hai mươi mét). Lúc này T đang cách xe ô tô trắng phía trước khoảng 6-7m (sáu đến bảy mét). Do bản thân T nghĩ có thể vượt được xe ô tô đó nên đã bấm còi, điều khiển xe sang làn bên trái để vượt xe ô tô. Tuy nhiên khi vừa bắt đầu vượt xe ô tô thì T phát hiện xe mô tô của ông H2 điều khiển đã ở trước đầu xe ô tô trắng, cách xe mô tô của T khoảng 4- 5m (bốn đến năm mét) nên T đã giảm tốc độ nhưng vẫn đâm vào phía trước bên trái xe mô tô của ông H2. Sau khi xảy ra va chạm, Sầm Lan N bị thương ở mắt trái, gãy xương đùi trái; Nông Thị Huyền T bị gãy ngón tay 3 và 4 của bàn tay trái; Hoàng Thái S và Sầm Quang H2 bị xây sát ngoài da. Cả hai phương tiện bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
Kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của Sầm Quang H2 và Nông Thị Huyền T là 0,00mg/L. Xét nghiệm kiểm tra chất ma túy đối với Sầm Quang H2 và Nông Thị Huyền T đều âm tính với ma túy.
Ngày 29/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 274 đề nghị giám định đoạn video ghi lại hình ảnh vụ
tai nạn có bị cắt ghép chỉnh sửa về nội dung hình ảnh hay không; Tốc độ xe mô tô biển kiểm soát 11F1 - 9160 và xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39 tại thời điểm ngay trước khi xảy ra va chạm. Tại bản Kết luận giám định số 201/K1-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trên video gửi giám định.
- Tốc độ xe mô tô BKS: 11F1 - 9160 trên video gửi giám định (thời lượng video trên từ 00:00:43.440 đến 00:00:44.280) trước thời điểm xảy ra va chạm khoảng từ 38,5 (km/h) đến 40,6 (km/h).
- Tốc độ xe mô tô BKS: 11B1 - 571.39 trên video gửi giám định (thời lượng video trên từ 00:00:43.600 đến 00:00:44.240) trước thời điểm xảy ra tai nạn khoảng từ 42.1 (km/h) đến 45 (km/h)."
Ngày 29/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C có Công văn số 174/CQĐT(ĐTTH) gửi Sở Giao thông vận tải tỉnh C về việc tra cứu thông tin cấp các loại giấy phép lái xe cho Sầm Quang H2 và Nông Thị Huyền T. Tại Công văn số 500/SGTVT-QLVT, PT&NL ngày 05/3/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh C xác định: Đã tiến hành tra cứu, kiểm tra trên hệ thống quản lý Giấy phép lái xe và xác nhận cấp 01 (một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1, 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng B2 cho ông Sầm Quang H2; Không cấp giấy phép lái xe cho Nông Thị Huyền T.
Xác định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do Nông Thị Huyền T vượt xe không đảm bảo an toàn, bản thân T cũng chưa được cấp giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Hoàng Thái S giao xe mô tô cho Nông Thị Huyền T điều khiển khi biết rõ T chưa có giấy phép lái xe theo quy định gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi của Nông Thị Huyền T đã vi phạm khoản khoản 9 Điều 8, khoản 2 Điều 14 và khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của Hoàng Thái S đã vi phạm quy định tại khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.
Quá trình điều tra xác minh, xác định xe mô tô nhãn hiệu BKS: 11F1-9160 của ông Vy Văn T3 cho ông Sầm Quang H2 sử dụng. Xét thấy việc trả lại xe mô tô BKS: 11F1-9160 và các giấy tờ xe không ảnh hưởng đến quá trình điều tra vụ án, ngày 17/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã ra quyết định trả xe mô tô nhãn hiệu DAELIM, BKS:11F1-9160: 01 (một) giấy phép lái xe số AC222492 mang tên Sầm Quang H2: (01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0002434 mang tên Vi Văn T6 cho ông Sầm Quang H2.
Ngày 23/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nông Thị Huyền T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và
Hoàng Thái S về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 111/CT-VKSTP ngày 02/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Thị Huyền T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Hoàng Thái S về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà,
Bị cáo Hoàng Thái S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gia đình hai bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 200.000.000 đồng và đã thực hiện bồi thường được 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) và còn phải thực hiện bồi thường tiếp số tiền 60.000.000 đồng còn lại trong năm 2024. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định tổn thương sức khỏe của bị hại, bản thân bị cáo cũng bị xây sát nhưng không đáng kể và không yêu cầu được giám định. Đối với thiệt hại của chiếc xe máy biển kiểm soát 11B1-571.39 bị cáo không có yêu cầu gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy cho bị cáo.
Bị cáo Nông Thị Huyền T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gia đình hai bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 200.000.000 đồng và đã thực hiện bồi thường được 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) và còn phải thực hiện bồi thường tiếp số tiền 60.000.000 đồng còn lại trong năm 2024. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định tổn thương sức khỏe của bị hại, bản thân bị cáo cũng bị thương tích nhưng bị cáo không yêu cầu được giám định
Đại diện gia đình bị hại ông Sầm Quang H2 trình bày: Phía gia đình bị hại và gia đình các bị cáo đã thống nhất mức bồi thường là 200.000.000 đồng. Phía gia đình các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 140.000.000 đồng. Nay gia đình ông đề nghị phía gia đình các bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 60.000.000 đồng (thanh toán trước ngày 31/12/2024) theo “Biên bản thoả thuận” giữa các gia đình vào ngày 08/7/2024. Ông H2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Sau khi sảy ra tai nạn bản thân ông H2 cũng bị choáng và xây sát bầm tím trên cơ thể nhưng không phải
nhập viện điều trị, hiện nay những thương tích đã khỏi hoàn toàn, ông không có yêu cầu đề nghị giám định. Với tỉ lệ tổn thương của Sầm Lan N ông nhất trí với kết luận giám định và không có ý kiến gì khác. Đối với thiệt hại của chiếc xe máy 11F1-9160 hiện nay ông đã sửa và sử dụng do vậy ông không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Thị T2, Hứa Thị H có mặt tại phiên toà không có yêu cầu bồi thường nào khác, nhất trí thực hiện theo thoả thuận giữa các gia đình theo “Biên bản thoả thuận” ngày 08/7/2024.
Người làm chứng Nguyễn Thị Ngọc Q trình bày bà là mẹ của cháu Sầm Lan N, khi bà nhận được thông tin về việc chồng con mình bị tai nạn thì khi lên đến nơi bà thấy cháu N bị thương tích nặng nhất, hiện nay cháu N cũng đã ổn định hơn. Tại phiên tòa bà vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày như trong quá trình điều tra. Gia đình bị cáo cũng đã bồi thường cho gia đình bà, bà đề nghị gia đình bị cáo tiếp tục thực hiện đúng theo thỏa thuận giữa hai bên và trả tiếp số tiền 60.000.000 đồng còn lại để phục vụ việc hồi phục tổn thương cho cháu N. Bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo.
Đề nghị:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nông Thị Huyền T; Tuyên bố bị cáo Nông Thị Huyền T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị xử phạt bị cáo T 36 (ba mươi sáu) nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 264; Điều 35; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Hoàng Thái S: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thái S phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị xử phạt bị cáo S mức phạt tiền là 10.000.000 đồng.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự thoả thuận của gia đình bị hại và gia đình các bị cáo thống nhất mức bồi thường là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng). Xác nhận gia đình các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Nay, các bị cáo Nông Thị Huyền T, Hoàng Thái S còn phải liên đới bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng), trước ngày 31/12/2024.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
Trả lại cho bị cáo Hoàng Thái S:
- 01 (một) xe mô tô màu xanh bạc, bên ngoài có chữ Honda Wave, biển kiểm soát 11B1-571.39. Số khung; RLHJA3921PY447116, số máy: JA39E3068166 (Xe cũ đã qua sử dụng, xe bị hư hỏng nặng do tại nạn giao thông, phần đầu xe, yếm xe đã bị nứt vỡ, gẫy càng, bánh trước phần xăm xe, lốp xe đã hư hỏng không di chuyển được).
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 11001504 mang tên Hoàng Thái S.
Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu chứng cứ đã thu thập, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa các bị cáo Nông Thị Huyền T, Hoàng Thái S đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định tổn thương cơ thể và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ căn cứ kết luận: Hoàng Thái S là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39 biết rõ Nông Thị Huyền T chưa có giấy phép lái xe nhưng vẫn giao xe cho Nông Thị Huyền T điều khiển tham gia giao thông và hồi 16 giờ 40 phút ngày 25/02/2024, Nông Thị Huyền T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11B1-571.39 chở Hoàng Thái S đi từ hướng phường D về trung tâm thành phố C. Khi đi đến khu vực K, đường Q thuộc tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 11F1-9160 do ông Sầm Quang H2 điều khiển chở con gái tên Sầm Lan N đi ngược chiều. Hậu quả cháu Sầm Lan N bị tổn
thương cơ thể 63% (Sáu mươi ba phần trăm). Nông Thị Huyền T điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát nên dẫn đến va chạm và gây hậu quả nghiêm trọng.
Như vậy, hành vi của Nông Thị Huyền T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); hành vi của Hoàng Thái S đã phạm tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố các bị là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thái S là ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo Nông Thị Huyền T là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, đồng thời đã gây ra thương tích, tổn hại sức khoẻ cho người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ, tính mạng của người khác nhưng do coi thường pháp luật, không chấp hành các quy định khi tham gia giao thông đã gây ra thương tích và tổn hại sức khoẻ cho cháu Sầm Lan N. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra để đảm bảo giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo đã đến thăm hỏi, bồi thường gia đình bị hại với tổng số tiền là 140.000.000 đồng, bị hại và đại diện theo hợp pháp của bị hại có đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Do vậy, các bị cáo Nông Thị Huyền T và Hoàng Thái S được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Hoàng Thái S được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về khung hình phạt bị truy tố, xét xử:
Bị cáo Nông Thị Huyền T bị truy tố, xét xử theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, bị cáo Hoàng Thái S bị truy tố, xét xử theo điểm b khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Sau khi xem xét nhân thân, đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tỉnh chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với bị cáo Hoàng Thái S: Bị cáo S có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng. Bị cáo xác nhận bị cáo có khả năng thi hành án hình phạt tiền theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Mức đề nghị hình phạt tiền mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đề nghị là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 264 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Nông Thị Huyền T: Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng và đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của bản thân, có thái độ ăn năn hối hận về hành vi của mình. Xét thấy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo theo như mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy cũng đủ sức răn đe để bị cáo cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, trở thành người công dân có ích; việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, rõ ràng. Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự thoả thuận của gia đình bị hại và gia đình các bị cáo thống nhất mức bồi thường là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng). Xác nhận gia đình các bị
cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Nay, các bị cáo Nông Thị Huyền T, Hoàng Thái S còn phải liên đới bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng), trước ngày 31/12/2024.
[8] Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:
Đối với 01 (một) xe mô tô màu xanh bạc, bên ngoài có chữ Honda Wave, biển kiểm soát 11B1-571.39 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 11001504 mang tên Hoàng Thái S, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Hoàng Thái S do vậy cần trả lại cho Hoàng Thái S là phù hợp.
Quá trình điều tra xác minh, xác định xe mô tô nhãn hiệu BKS: 11F1-9160 của ông Vi Văn T6 cho ông Sầm Quang H2 sử dụng. Xét thấy việc trả lại xe mô tô BKS: 11F1-9160 và các giấy tờ xe không ảnh hưởng đến quá trình điều tra vụ án, ngày 17/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã ra quyết định trả xe mô tô nhãn hiệu DAELIM, BKS:11F1-9160: 01 (một) giấy phép lái xe số AC222492 mang tên Sầm Quang H2: (01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0002434 mang tên Vi Văn T6 cho ông Sầm Quang H2 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[9]. Đối với các vấn đề khác.
Tại phiên tòa các bị cáo Nông Thị Huyền T, Hoàng Thái S, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Sầm Quang H2 không có yêu cầu đề nghị giám định thương tích của bản thân do, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến thiệt hại của hai chiếc xe mô tô do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[12] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nông Thị Huyền T.
Tuyên bố: Bị cáo Nông Thị Huyền T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo Nông Thị Huyền T 36 tháng tù nhưng cho hưởng
án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/8/2024.
Giao bị cáo Nông Thị Huyền T cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hoàng Thái S.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thái S phạm tội "Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo Hoàng Thái S số tiền 10.000.000 đồng.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự thoả thuận của gia đình bị hại và gia đình các bị cáo thống nhất mức bồi thường là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng). Xác nhận gia đình các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Nay, các bị cáo Nông Thị Huyền T, Hoàng Thái S còn phải liên đới bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 3 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
Trả lại cho bị cáo Hoàng Thái S:
- 01 (một) xe mô tô màu xanh bạc, bên ngoài có chữ Honda Wave, biển kiểm soát 11B1-571.39. Số khung; RLHJA3921PY447116, số máy: JA39E3068166 (Xe cũ đã qua sử dụng, xe bị hư hỏng nặng do tại nạn giao thông, phần đầu xe, yếm xe đã bị nứt vỡ, gẫy càng, bánh trước phần xăm xe, lốp xe đã hư hỏng không di chuyển được).
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 11001504 mang tên Hoàng Thái S.
Xác nhận: Các vật chứng nêu trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số 132 ngày 05/7/2024.
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc các bị cáo Nông Thị Huyền T, Hoàng Thái S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá nghạch trong vụ án hình sự để sung vào công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2- luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lý Xuân Huy |
Bản án số 124/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 124/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển
