|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2025/DS-PT
Ngày: 21 - 3 - 2025
V/v tranh chấp phân chia di sản thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập;
Ông Dương Hùng Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 509/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp phân chia di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 319/2024/DSST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 543/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Đào Thị L, sinh năm: 1956; Cư trú tại: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước.
- Bà Đào Lệ T, sinh năm: 1965; Cư trú tại: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Bà Đào Ngọc Y, sinh năm: 1963; Cư trú tại: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Bà Đào Hồng L1, sinh năm: 1968;
- Bà Đào Mỹ H, sinh năm: 1974;
- Bà Đào Ngọc N, sinh năm: 1978.
Cùng cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đào Mỹ H và bà Đào Ngọc N: Luật sư Du Thị B, là Luật sư của Văn phòng L5, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C.
- Bị đơn:
- Ông Đào Hoàng L2, sinh năm 1970; Cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Ông Đào Hoàng P, sinh năm: 1972;
- Ông Đào Hoàng Ú, sinh năm: 1981.
Người đại diện hợp pháp của ông L2: Ông Huỳnh Thanh L3, sinh năm 1981; cư trú tại: Khóm H, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/9/2024).
Cùng cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Ánh P1, sinh năm: 1955 (vợ ông Đào Quốc S);
- Bà Đào Mỹ L4, sinh năm: 1976 (con ông Đào Quốc S).
- Ông Đào Toản E, sinh năm: 1985; Cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (con ông Đào Quốc S).
- Ông Đào Trung K, sinh năm: 1980 (con ông Đào Quốc S);
- Bà Đào Bé H1, sinh năm: 1987 (con ông Đào Quốc S).
- Ông Đào Quốc T1, sinh năm: 1984; Cư trú tại: A N, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (con ông Đào Quốc H2).
- Ông Võ Hữu N1, sinh năm: 1975; Cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Bà Lê Thị D (vợ ông Đào Quốc H2); Cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Kim C, sinh năm: 1969; Cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Bà Đào Ngọc D1; Cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (con ông Đào Hoàng L2).
Cùng cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Cùng cư trú tại: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người kháng cáo:
Ông Đào Hoàng L2 – Là Bị đơn và bà Nguyễn Kim C – Là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bà Đào Mỹ H, bà Đào Ngọc N, Luật sư Du Thị B, ông Huỳnh Thanh L3, ông Võ Hữu N1, bà Nguyễn Kim C có mặt tại phiên tòa. Các đương sự khác vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Cha các đồng nguyên đơn là cụ Đào Văn T2 (chết năm 1989) và mẹ là cụ Hồ Thị T3 (chết năm 2006). Cụ T2 và cụ T3 có với nhau 11 người con gồm:
- Đào Quốc S (đã chết, vợ Phan Ánh P1, con Đào Mỹ L4 và Đào Toản E, Đào Trung K, Đào Bé H1);
- Đào Thị L;
- Đào Quốc H2 ( đã chết, vợ Lê Thị D, con Đào Quốc T1);
- Đào Lệ T;
- Đào Ngọc Y;
- Đào Hồng L1;
- Đào Hoàng L2;
- Đào Hoàng P;
- Đào Mỹ H;
- Đào Ngọc N;
- Đào Hoàng Ú.
Sinh thời, cụ T2 và cụ T3 hưởng thừa kế phần đất của ông bà nội với diện tích 32.320m² tại ấp M, xã T, huyện Đ và được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) cho cụ T2 vào năm 1990. Cùng năm 1990, cha mẹ phân chia cho ông S 5.200m² đất (đã được cấp giấy CNQSDĐ). Phần diện tích đất còn lại 27.120m² thì gia đình quản lý sử dụng. Năm 1989, cụ T2 chết. Cụ T3 và các con trong gia đình quản lý sử dụng. Năm 1998, cụ T3 chuyển nhượng cho ông S 4.000m² đất, nhưng chưa làm thủ tục sang tên (phần đất này các đồng nguyên đơn không yêu cầu phân chia).
Phần đất còn lại 23.120m² cụ T3 và các con quản lý sử dụng đến ngày 15/5/2006 thì cụ chết. Khi hai cụ chết thì không để lại di chúc. Sau đó, ông L2, ông P, ông Ú quản lý phần đất và tự kê khai mục đích sử dụng riêng. Nay ông P, ông Ú đồng ý giao phần đất lại để anh chị em phân chia, còn ông L2 không đồng ý.
Nay các đồng nguyên đơn yêu cầu Tòa án phân chia thừa kế theo quy định của pháp luật cho mỗi hàng thừa kế được hưởng 2.568m² trong phần di sản 23.120m² hiện do ông L2, ông P, ông Ú quản lý. Phần đất có vị trí: Hướng Đông giáp phần đất Phạm Thị N2; hướng Tây giáp phần đất Nguyễn Chí N3 và bà Phan Ánh P1; hướng Nam giáp kênh B; hướng Bắc giáp phần đất Lê Hoàng N4, Phạm Quốc C1 và Võ Thị N5.
Ông Võ Hữu N1 trình bày: Ngày 05/6/2006, ông nhận cố phần đất có diện tích khoảng 6.000m² của ông L2 và bà C do cụ T2 đứng tên giấy CNQSDĐ, phần đất tọa lạc ấp M, xã T, huyện Đ, với giá 07 lượng vàng 24k, thời hạn 04 năm. Tuy nhiên, đến nay thời hạn cố đã hết, nhưng ông L2, bà C chưa chuộc đất. Nay các nguyên đơn khởi kiện ông L2, ông P, ông Ú phân chia di sản thừa kế của cụ T2 và cụ T3. Trong phần đất các nguyên đơn yêu cầu có cả phần đất ông L2, bà C đã cố cho ông. Do đó, ông yêu cầu tuyên bố hợp đồng cố đất nêu trên là vô hiệu. Buộc ông L2 và bà C phải có nghĩa vụ trả cho ông 07 lượng vàng 24k, ông đồng ý giao trả phần đất.
Đối với các bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bà H, bà N giữ nguyên yêu cầu. Bà H, bà N đồng ý giao kỷ phần được hưởng cho bà L.
- Bà L giữ nguyên yêu cầu và đồng ý nhận kỷ phần của các hàng thừa kế giao cho bà.
- Ông P, ông Ú đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đồng ý giao kỷ phần được hưởng cho bà L.
- Ông L2, bà C không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 316/2024/DSST ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hữu N1. Tuyên bố hợp đồng cố quyền sử dụng đất được thiết lập giữa ông Võ Hữu N1 với ông Đào Hoàng L2 và bà Nguyễn Kim C ngày 05/6/2006 là vô hiệu.
- Buộc ông Đào Hoàng L2 và bà Nguyễn Kim C phải có nghĩa vụ trả cho ông Võ Hữu N1 70 (bảy mươi) chỉ vàng 24k.
- Buộc ông Võ Hữu N1 có nghĩa vụ giao trả cho ông Đào Hoàng L2 và bà Nguyễn Kim C phần đất có diện tích 6.272,3m² tọa lạc ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phân chia di sản thừa kế của bà Đào Thị L, bà Đào Lệ T, bà Đào Ngọc Y, bà Đào Hồng L1, bà Đào Mỹ H và bà Đào Ngọc N.
- Buộc ông Đào Hoàng L2, bà Nguyễn Kim C, bà Đào Hồng D2, ông Đào Hoàng P, ông Đào Hoàng Ú phải có nghĩa vụ giao phần đất có diện tích 22.808,8m² tọa lạc ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau cho bà Đào Thị L quản lý, sử dụng.
- Buộc bà Đào Thị L phải có nghĩa vụ giao trả số tiền 183.902.000 đồng cho ông Đào Hoàng L2.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực bà Đào Thị L được quyền chủ động đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai để làm thủ tục sang tên đăng ký quyền sử dụng phần đất được hưởng.
Bà Đào Thị L được hưởng phần đất có diện tích 22.808,8m².
Ông Đào Hoàng L2 được hưởng số tiền 183.902.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 09/10/2024 Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi nhận được đơn kháng cáo của ông Đào Hoàng L2 và bà Nguyễn Kim C, với yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và công nhận phần đất có diện tích 6.272,3m² tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện Đ theo thửa 65 và 98 thuộc sở hữu của ông Đào Hoàng L2.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Huỳnh Thanh L3 đại diện theo ủy quyền của ông Đào Hoàng L2 trình bày: Cấp sơ thẩm không đưa vợ ông Nghĩa là bà Phạm Thị N2 tham gia tố tụng là chưa đúng, không xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, ghi lời khai của các nguyên đơn và triệu tập người làm chứng theo đơn yêu cầu của ông L2, chưa xác định đúng diện tích di sản thừa kế là thiếu sót. Từ những tình tiết trên, yêu cầu Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
Luật sư Du Thị B trình bày: Những yêu cầu và trình bày của phía bị đơn đã được cấp sơ thẩm làm rõ, không cần thiết đưa vợ ông Nghĩa là bà Phạm Thị N2 tham gia tố tụng vẫn đảm bảo quyền lợi cho ông N1. Yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Hủy Bản án sơ thẩm số 319/2024/DSST ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, do đưa thiếu bà Phạm Thị N2 tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Đào Hoàng L2 là nguyên đơn và bà Nguyễn Kim C là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nộp trong thời hạn qui định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
Về tố tụng, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2] Tại Văn bản trình bày ý kiến ký ngày 11/01/2025, bà Phạm Thị N2 trình bày: “Tôi là vợ của Ông Võ Hữu N1 sinh năm 1975 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nêu trên), vào năm 2006 vợ chồng tôi (Võ Hữu N1, Phạm Thị N2) có nhận cố phần đất có diện tích khoảng 06 công của Ông Đào Hoàng L2 và Bà Nguyễn Kim C với giá 07 lượng vàng 24K. Tại thời điểm vợ chồng tôi (N1, N2) nhận cố đất, tôi được biết phần đất của Ông L2 và Bà C được cha mẹ (là Bà Hồ Thị T3) cho vào khoảng từ năm 2000. Ông L2, Bà C công tác đến tháng 06 năm 2006 thì cố cho vợ chồng tôi (N1, N2) sử dụng cho đến nay (do hết thời hạn cố đất nhưng ông L2, Bà C chưa chuộc lại). Nay các anh chị em của Ông L2 tranh chấp đòi phân chia thừa kế bao gồm cả phần đất vợ chồng tôi (N1, N2) đang nhận cố của ông L2, Bà C. Tôi nhận thấy, việc tranh chấp thừa kế của các anh chị em Ông L2 trong vụ án nêu trên có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của tôi, tuy nhiên từ khi Tòà án nhân dân huyện Đ giải quyết vụ án cho đến nay tòa án chỉ làm việc với chồng của tôi (Ông Võ Hữu N1), tòa án cấp sơ thẩm chưa cho tôi tham gia tố tụng, tôi chưa được tham gia làm việc với tòa án, tôi chưa được trình bày ý kiến với tòa án về vấn đề liên quan đến 07 lượng vàng 24K đã giao cho Ông L2, Bà C và phần đất đã nhận cố của Ông L2, Bà C như nêu trên. Qua tìm hiểu, tôi được biết ông Đào Hoàng L2 và bà Nguyễn Kim C có kháng cáo bản án sơ thẩm, sắp tới Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau sẽ tiến hành xét xử phúc thẩm, tôi nghĩ rằng tòa án cấp phúc thẩm sẽ đưa tôi vào tham gia tố tụng, tuy nhiên đến thời điểm này tôi vẫn chưa được tòa án cấp phúc thẩm đưa tôi tham gia tố tụng vụ án nêu trên. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của tôi, nay bằng văn bản này tôi kính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau bổ sung cho tôi được tham gia tố tụng vụ án nêu trên”.
[3] Tại đơn yêu cầu, tại những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông Võ Hữu N1 đều trình bày là ông cố đất của vợ chồng ông L2 và bà C và ông N1 chỉ yêu cầu vợ chồng ông L2 và bà Chi trả cho ông 0 lượng vàng 24k, không đề cập đến bà Phạm Thị N2, cũng như không trình bày 07 lượng vàng 24k là tài sản chung của vợ chồng. Do đó cấp sơ thẩm không đưa bà Phạm Thị N2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Võ Hữu N1 xác định 07 lượng vàng 24k mà ông dùng để cố đất của ông L2 và bà C là tài sản chung của vợ chồng ông đúng như lời trình bày của vợ ông là bà Phạm Thị N2. Khi có yêu cầu độc lập tại cấp sơ thẩm, ông sơ sót không trình bày vấn đề này. Nay ông cũng yêu cầu đưa bà N2 tham gia tố tụng như bà N2 yêu cầu.
[5] Do có yêu cầu của bà Phạm Thị N2 và lời trình bày của ông Võ Hữu N1 (tại phiên tòa phúc thẩm), đã xác định 07 lượng vàng 24k mà ông dùng để cố đất của ông L2 và bà C là tài sản chung của vợ chồng ông. Mặc khác, vợ chồng ông N1 và bà N2 hiện cùng quản lý, sử dụng phần đất đang tranh chấp, án sơ thẩm chỉ buộc ông N1 có nghĩa vụ giao trả cho ông L2 và bà C phần đất mà không buộc bà N2 cùng có trách nhiệm giao trả phần đất cho ông L2 và bà C là không đảm bảo cho việc thi hành án.
Do đó, để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của bà Phạm Thị N2, nên cần phải đưa bà Phạm Thị N2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[6] Do cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng như nhận định trên, nên cần phải hủy bản án sơ thẩm số 316/2024/DSST ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa.
[7] Do hủy án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của ông L2 và bà C.
[8] Chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm được giữ lại để tiếp tục giải quyết vụ án. Án phí dân sự phúc thẩm ông L2 và bà C không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 316/2024/DSST ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Chi phí tố tụng và án phí:
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
- Chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Đào Hoàng L2 và bà Nguyễn Kim C không phải chịu. Ngày 09/10/2024 ông Đào Hoàng L2 và bà Nguyễn Kim C, mỗi người đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng, theo các biên lai số 0001870 và 0001871 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, được nhận lại.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thành Lập |
Dương Hùng Quang |
Đỗ Cao Khánh |
Bản án số 124/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp phân chia di sản thừa kế
- Số bản án: 124/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phân chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp việc phân chia di sản thừa kế của cha mẹ là ông Đào Văn T2 để lại
