Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 124/2025/HS-ST

Ngày: 17-03-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

--------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Nguyệt Thu;

2. Ông Trần Chính.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Sỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phi H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1997 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố T, thị trấn K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Nguyễn Hoàng Y, sinh năm 1970 (đã chết) và bà Trương Thị H1, sinh năm 1975. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2 và chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang, bị tạm giữ sau đó chuyển tạm giam từ ngày 06/11/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phi H là người sử dụng trái phép chất ma tuý. Khoảng 18 giờ ngày 28/10/2024, H đi xe ôm đến khu vực phường A, TP ., tỉnh Bình Dương mua của một thanh niên tên S (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) với mục đích để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 20 phút ngày 05/11/2024, H thuê phòng số 8 nhà nghỉ “Hồng Hà” thuộc tổ A, khu phố D, phường T, TP . và lấy 01 phần ra sử dụng 01 mình. Phần còn lại H cất giấu vào trong ví (bóp) và để trên giường trong phòng số 8 tại nhà nghỉ "". Vào khoảng 08 giờ 45 phút ngày 06/11/2024, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B phối hợp cùng Công an phường T, thành phố B tiến hành kiểm tra tại phòng số 8, nhà nghỉ " nêu trên và phát hiện trong ví bằng vải da của H đang để trên giường ngủ cất giấu 01 (một) gói ma túy tổng hợp và 1 “nỏ” thủy tinh đang để trên bàn dùng để sử dụng ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Phi H về hành vi tàng trữ phép chất ma túy. Quá trình điều tra, Nguyễn Phi H khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) gói nilong có chứa chất màu trắng được niêm phong có chữ ký của H và dấu mộc tròn đỏ của Công an phường T, thành phố B.
  • 01 chai nhựa có gắn 01 (một) nỏ thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa, sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu S2 M11, Imel: 355627114771786 của H không sử dụng vào việc phạm tội.

* Tại Kết luận giám định số 2250/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 1,0846 gam, loại Methamphetamine.

Truy tố: Tại bản cáo trạng số 142/CT/VKSBH ngày 13/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Phi H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trình bày lời luận tội: Phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo. Trên cơ sở đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ Luật hình sự xử phạt Nguyễn Phi H với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Bị cáo không trình bày tranh luận.

Trong phần phát biểu lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo hứa không bao giờ tái phạm nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh (Hành vi phạm tội, tội danh, điều luật áp dụng): Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phi H đã khai nhận: Vào khoảng 08 giờ 45 phút ngày 06/11/2024, tại tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,0846 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.

    Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Nhận thấy có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Phi H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã viện dẫn và truy tố.

  3. Về hình phạt (Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội):
    1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác, bản thân bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng để răn đe, phòng ngừa chung.
    2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.
    3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  4. Về phần xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
    • - Cần tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 chai nhựa có gắn 01 (một) nỏ thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa sử dụng vào việc phạm tội.
    • - Cần trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M11, Imel: 355627114771786 do không liên quan đến việc phạm tội.

    Đối với đối tượng tên S (nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma tuý cho Nguyễn Phi H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.

  5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
  6. Về quan điểm luận tội và đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm c, Khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 chai nhựa có gắn 01 (một) nỏ thuỷ tinh và 01 ống hút nhựa sử dụng vào việc phạm tội.
    • - Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M11, Imel: 355627114771786 do không liên quan đến việc phạm tội.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa (2);
  • - Thi hành án (6);
  • - Phân trại tạm giam khu vực Biên Hòa (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Lưu VP-HS (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 124/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phi Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger