|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 124/2025/DS-PT Ngày 04-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Mộng Tuyết |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Thanh |
| Bà Trần Thị Thắm. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 777/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 130/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1976; địa chỉ: TDP D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí H1, sinh năm 1982; địa chỉ: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ liên hệ: đường D, khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/5/2023), có mặt.
- Bị đơn: Ông Đào Xuân S, sinh năm 1965; địa chỉ: tổ B, khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1995; địa chỉ: tổ D, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 05/11/2024); bà L và bà P có mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn ông Đào Xuân S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 5 năm 2023, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Chí H1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thanh H là chủ hộ kinh doanh Nguyễn Thị Thanh H (Cơ sở mộc Nguyễn Thị Thanh H) địa chỉ trụ sở: thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 04 tháng 7 năm 2020, bà H đại diện Cơ sở mộc Nguyễn Thị Thanh H ký hợp đồng mua bán đồ gỗ với ông Đào Xuân S. Theo đó, ông S mua của bà H 02 (hai) bộ ghế salon, mỗi bộ A món với số tiền là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng, bà H đã giao cho ông S 02 (hai) bộ ghế salon, mỗi bộ A món theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán ngày 04 tháng 7 năm 2020. Ông S đồng ý nhận 02 (hai) bộ ghế salon, mỗi bộ A món theo thỏa thuận và đã thanh toán cho bà H trước 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng). Số tiền còn lại 170.000.000 đồng (một trăm bảy mươi triệu đồng) ông S hẹn đến ngày 30 tháng 7 năm 2020 sẽ thanh toán hết cho bà H. Đến ngày 30 tháng 7 năm 2020 ông S không thanh toán số tiền còn lại cho bà H mặc dù bà H đã liên hệ nhiều lần. Ông S cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà H đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nay bà H - Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Thị Thanh H làm đơn khởi kiện ông Đào Xuân S để yêu cầu Toà án giải quyết những nội dung sau:
Buộc ông Đào Xuân S trả cho bà Nguyễn Thị Thanh H - Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Thị Thanh H số tiền 240.125.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Trong đó: số tiền chưa thanh toán theo hợp đồng mua bán là 170.000.000 đồng (một trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả 0,83%/tháng tính từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 đến nay là 70.125.000 đồng (bảy mươi triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Tại biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Đào Xuân S trình bày:
Ngày 04 tháng 7 năm 2020, ông S có ký hợp đồng mua bán với bà Nguyễn Thị Thanh H – Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Thị Thanh H để mua 02 bộ gỗ cẩm Salon 20 món, giá hai bên thỏa thuận là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Nguyên liệu gỗ: cẩm thị (xương gà). Chữ ký, chữ viết bên mua trong hợp đồng mua bán ngày 04 tháng 7 năm 2020 là của ông S. Ông S đã giao bà H số tiền 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng). Số tiền ông S còn nợ bà H là 170.000.000 đồng (một trăm bảy mươi triệu đồng). Đến ngày 30 tháng 7 năm 2020 bà H đã giao cho ông S 02 bộ ghế Salon 20 món. Ông S đã nhận 02 bộ ghế Salon 20 món nhưng bà H giao 02 bộ ghế cho ông S không đúng như trong thỏa thuận theo hợp đồng mua bán mà ông S đã ký kết với bà H. Quá trình sử dụng gỗ, ông S phát hiện không phải gỗ cẩm, ông S đã sơn mới lại. Hiện nay, ông S vẫn còn giữ 02 bộ ghế Salon 20 món nếu bà H lấy lại 02 bộ S1, bà H phải mang tiền trả lại cho ông S, ông S sẽ trả lại gỗ cho bà H và bà H phải bồi thường tiền sơn sửa chữa cho ông S. Trước yêu cầu khởi kiện của bà H thì ông S không đồng ý. Ông S yêu cầu bà H nhận lại 02 bộ ghế Salon 20 món. Bà H trả lại cho ông S số tiền 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng) mà bà H đã nhận của ông S. Ông S không yêu cầu phản tố trong vụ án này. Ông S không có yêu cầu nào khác, không có trình bày gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H - Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Thị Thanh H đối với bị đơn ông Đào Xuân S về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Buộc ông Đào Xuân S có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thanh H - Chủ hộ kinh doanh Nguyễn Thị Thanh H số tiền 240.125.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng), trong đó: tiền nợ gốc chưa thanh toán là 170.000.000 đồng (một trăm bảy mươi triệu đồng); tiền lãi chậm trả tính đến ngày 17 tháng 10 năm 2024 là 70.125.000 đồng (bảy mươi triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm trả và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23 tháng 10 năm 2024, bị đơn ông Đào Xuân S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không tiến hành giám định tài sản tranh chấp, không xem xét định giá đối với tài sản mua bán. Tài sản ông S mua trong thời kỳ hôn nhân nhưng không đưa vợ ông S vào tham gia tố tụng.
Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- - Về nội dung: theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết trong phạm vi đã giải quyết sơ thẩm, quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông S không yêu cầu giám định, tài sản mua bán từ năm 2020, từ khi nhận hàng ông S không có bất kỳ khiếu nại nào đến nay hơn năm 05 năm mới cho rằng chất lượng sản phẩm không đúng và yêu cầu giám định là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn và bị đơn thống nhất, ngày 04/7/2020, giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng mua bán hàng hóa, đối tượng hợp đồng là 02 bộ ghế salon 20 món, nguyên liệu gỗ là gỗ cẩm thị (xương gà), giá 02 bên thỏa thuận là 300.000.000 đồng, nguyên đơn đã giao 02 bộ ghế salon theo thỏa thuận cho bị đơn; bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 130.000.000 đồng, hẹn đến ngày 30/7/2020, bị đơn sẽ giao số tiền 170.000.000 đồng còn lại nhưng bị đơn chưa giao số tiền này cho nguyên đơn, sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ theo hợp đồng trên cùng tiền lãi chậm trả. Bị đơn không đồng ý cho rằng chất liệu gỗ của 02 bộ ghế salon không phải được làm từ gỗ cẩm thị mà làm bằng gỗ xương gà, không đúng thỏa thuận trong hợp đồng nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn có ý kiến yêu cầu nguyên đơn nhận lại 02 bộ ghế salon và trả lại số tiền 130.000.000 đồng nhưng bị đơn không có yêu cầu phản tố trong vụ án.
[3] Xét, bị đơn ông S thừa nhận chữ ký của mình trong hợp đồng mua bán ngày 04/7/2020, thừa nhận nội dung hợp đồng, khi giao kết hợp đồng, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; tham gia ký kết hợp đồng một cách tự nguyện, nội dung thoả thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết.
[4] Tại hợp đồng mua bán, nguyên đơn và bị đơn đã xác định nguyên liệu gỗ là cẩm thị (xương gà), đồng thời “Hợp đồng mua bán ngày 04/7/2020” thể hiện bị đơn đồng ý mua của nguyên đơn “sản phẩm đồ mộc bộ ghế salon 20 món”, nguyên liệu gỗ cẩm thị (xương gà). Theo quy định tại Điều 318 Luật thương mại 2005 quy định nếu hợp đồng không có thỏa thuận thì thời hạn khiếu nại giải quyết tranh chấp trong thương mại về chất lượng hàng hóa là 06 (sáu) tháng kể từ ngày giao hàng, trong trường hợp hàng hoá có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là 03 (ba) tháng, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành. Nguyên đơn đã nhận hàng từ ngày 04/7/2020, nguyên đơn không có bất kỳ khiếu nại nào về chất lượng sản phẩm kể từ thời điểm nhận, đồng thời nguyên đơn còn sơn mới lại sản phẩm. Đến khi nguyên đơn tranh chấp, bị đơn cho rằng chất lượng sản phẩm giao không đúng hợp đồng, quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm bị đơn cũng không yêu cầu giám định cũng như định giá tài sản. Do đó, việc bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không giám định cũng như định giá tài sản 02 bộ ghế salon và tại cấp phúc thẩm yêu cầu giám định tài sản là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn yêu cầu giám định của bị đơn cũng như ý kiến trình bày của bị đơn.
[5] Như vậy, nguyên đơn đã thực hiện đúng theo hợp đồng giao kết, bị đơn đã nhận hàng nhưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên phải có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại là 170.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định tại Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[6] Bị đơn cho rằng tài sản mua là tài sản chung trong thời ký hôn nhân nên phải đưa vợ ông S tham gia tố tụng. Xét, giao dịch mua bán mà giữa nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng đã giao kết. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa vợ ông S vàm tham gia tố tụng là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[8] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 148; khoản 1 Điều 308; Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đào Xuân S.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đào Xuân S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0003825 ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |
Bản án số 124/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 124/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
