Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2025/DS-PT

Ngày 27 tháng 2 năm 2025

Về việc: “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tửu

Ông Hà Huy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 848 /2024 /TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 26 /2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2025/QĐPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công N, sinh năm 1967 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Thái Bình D (có mặt). Cùng địa chỉ: Số C X, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1962 (có mặt)

Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Bùi Quang H2, sinh năm 1971(có mặt). Địa chỉ: A C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền lượi ích hợp pháp cho bị đơn : Luật sư Vũ Anh C – Văn phòng L3 (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1974 có mặt.
  2. Ông Bùi Công N1, sinh năm 1976 vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 có mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

  1. Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

Trụ sở: Khóm 1, Phường 1, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T1, chức vụ: Chủ tịch

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thanh T2, chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

Người kháng cáo: ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Công N trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ ông khai phá. Cha tên Nguyễn Văn N2 (chết năm 2006), mẹ tên Lê Thị L2 (chết năm 2014). Vào khoảng năm 2005, cha mẹ ông có tặng cho ông 02 công đất nuôi trồng thủy sản và chuyển nhượng cho ông 2,5 công đất nuôi trồng thủy sản, tất cả là 4,5 công. Việc tặng cho và chuyển nhượng chỉ làm giấy tay, không có xác nhận chính quyền địa phương nhưng anh em trong nhà đều biết và bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị H1 là hai người em của ông đều ký tên vào giấy tay chứng kiến việc tặng cho và chuyển nhượng đất nêu trên. Giá chuyển nhượng 2,5 công đất bằng 2,5 lượng vàng 24k và ông đã giao đủ cho cha mẹ vào lúc lập giấy tay năm 2005.

Sau khi được tặng cho và nhận chuyển nhượng 4,5 công đất nêu trên thì ông chưa làm thủ tục tách chuyển quyền sử dụng đất cho ông. Cùng thời gian đó, ông cho em ruột Nguyễn Thị L1 mượn 4,5 công đất canh tác vì ông đi làm ăn xa không trực tiếp canh tác được. Việc cho bà L1 mượn canh tác không lập giấy tờ vì là anh em trong gia đình.

Đến năm 2006, cha ông bị bệnh nên bà L1 hỏi ý kiến ông về việc cố 4,5 công đất này cho người khác để lấy tiền điều trị bệnh cho cha, ông đồng ý. Lúc này, bà L1 cố 4,5 công đất cho ông Bùi Công N1, giá 1,6 lượng vàng 24k, với thời hạn 03 năm sẽ chuộc lại. Nếu đến hạn không chuộc được thì ông Bùi Công N1 tiếp tục canh tác cho đến khi có tiền chuộc lại. Việc cố đất cũng lập giấy tay và có bà Nguyễn Thị H1 ký tên chứng kiến vào giấy cố đất. Đến năm 2009, do không có tiền chuộc đất nên ông Bùi Công N1 vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng đất.

Khi Nhà nước mở lộ (không nhớ rõ năm nào), tuyến lộ này có ảnh hưởng đến 4,5 công đất đã cố cho ông N1, lúc này ông N1 thấy quyền lợi của mình bị ảnh hưởng (mất một phần đất nhận cố) nên ông N1 nói với ông Nguyễn Văn T (em của ông) trả bớt lại 04 chỉ vàng đối với đất cố cho ông N1, ông T nhận tiền bồi thường đất trả 04 chỉ vàng cho ông N1, vậy số đất còn lại cố 1,2 lượng vàng 24k. Do canh tác đất không tốt, ông N1 bỏ trống đất nên bà L1 canh tác. Không biết lý do gì bà H1 lại đứng ra chuộc đất từ ông N1 trong khi bà H1 không phải là người cố đất.

Đến khoảng năm 2016, ông mới phát hiện bà H1, ông Nguyễn Văn T đã tự ý chuyển nhượng 4,5 công đất của ông cho bà H1, bà H1, ông T biết đất của ông nhưng sang bán mà không cho ông hay và hiện nay bà H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đất đang tranh chấp nhưng bà H1 ngang nhiên nuôi tôm, ông có báo chính quyền địa phương nhưng bà H1 vẫn tiếp tục canh tác, quản lý, sử dụng nên ông khởi kiện tại Tòa án yêu cầu giải quyết.

Nay, ông yêu cầu ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H1 trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế 3.245m2 (Theo Đơn khởi kiện ông yêu cầu trả diện tích 3.250m2, rút diện tích đất chênh lệch so với đơn khởi kiện là 05m2) và yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp nêu trên do bà Nguyễn Thị H1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 158, tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Đồng thời, ông N yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H1 với ông Nguyễn Văn T.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ bà khai phá. Cha tên Nguyễn Văn N2 (chết năm 2006), mẹ tên Lê Thị L2 (chết năm 2014). Vào khoảng năm 1991, 1992 cha mẹ bà có chuyển nhượng cho bà khoảng 08 công tầm cấy đất trồng lúa, việc chuyển nhượng không làm giấy tờ, nhưng sau khi nhận chuyển nhượng thì bà làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 06/02/1996, với diện tích 10.000m2 thửa 158, tờ bản đồ số 07, đất tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Bà sử dụng đến năm 1997, cha bà thỏa thuận với bà đổi đất (việc đổi đất không có giấy tờ), cha bà lấy 10.000m2 mà bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà lấy phần đất khác ở gần nhà cha bà. Năm 2005, cha bà có chuyển nhượng 2,5 công đất cho ông Nguyễn Công N và tặng cho ông N 02 công đất, tất cả vừa cho vừa chuyển nhượng là 4,5 công. Chính bà là người ký tên chứng kiến vào Giấy tay sang bán, và cho đất giữa cha bà với ông N. Tuy nhiên, lúc này ông N không có tiền trả cho cha bà nên ông N hỏi mượn bà Nguyễn Thị L1 (em của bà) 02 lượng vàng 24k, bà L1 giao vàng cho ông N để trả cho cha bà và ngược lại ông N giao 4,5 công đất này cho bà L1 sử dụng đến khi nào ông N có tiền trả bà L1 thì bà L1 giao đất này cho ông N. Ông N chưa sử dụng 4,5 công đất này ngày nào.

Bà L1 sử dụng đến năm 2006, thì bà L1 cố 4,5 công đất này cho ông Bùi Công N1 với giá 1,6 lượng vàng 24k, có giấy tờ cố đất (giấy tay). Lúc này, ông Bùi Công N1 có nói 4,5 công đất này là của cụ Nguyễn Văn N2 để lại cho ông Nguyễn Văn T quản lý, nên phải có ông T ký tên vào Giấy tay cố đất thì ông N1 mới cố, nên ông T cũng có ký tên vào Giấy tay cố đất.

Năm 2010, Nhà nước làm lộ có ảnh hưởng đến 4,5 công đất trên, Nhà nước bồi thường nên mẹ bà nhận tiền bồi thường đối với 02 công đất do làm lộ ảnh hưởng. Lúc này, ông Bùi Công N1 cho rằng ông cố 4,5 công nhưng do làm lộ ảnh hưởng 02 công, ông bị hao hụt đất 02 công, ông cố chỉ còn 2,5 công nên ông mới thỏa thuận với ông Nguyễn Văn T trả lại 04 chỉ vàng, ông T đồng ý và đã đưa cho ông N1 04 chỉ vàng 24k. Ông N1 tiếp tục sử dụng phần đất còn lại (2,5 công) đã cố.

Năm 2016, ông Nguyễn Văn T thỏa thuận với bà chuyển nhượng diện tích đất 2,5 công với giá 55.000.000 đồng/01 công, việc chuyển nhượng không có giấy tờ, chỉ thỏa thuận miệng. Lúc này, bà đưa cho ông T 90.000.000 đồng, phần còn lại 1,2 lượng vàng bà chuộc đất từ ông N1. Ông N1 đồng ý cho bà chuộc đất và đã nhận đủ vàng, đồng thời trả Giấy tay cố đất cho bà vào năm 2020. Hiện nay, giữa bà và ông Bùi Công N1 không phát sinh tranh chấp.

Ông L, bà H1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông N, không có yêu cầu phản tố. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T trình bày:

Khoảng năm 2016, ông có chuyển nhượng đất (phần đất tranh chấp) cho bà H1. Vì lúc cha mẹ ông cho và chuyển nhượng đất cho ông N thì ông không biết (do ông đi làm ăn xa). Ông là con trai út trong gia đình, khi cha mẹ ông chết để đất lại thì ông hưởng và lấy chuyển nhượng cho bà H1. Sau này ông mới biết là của ông N và do ông N đi làm ăn xa, ông N cho bà Nguyễn Thị L1 mượn canh tác. Năm 2006, cha ông bị bệnh nên bà L1 hỏi ý kiến ông N cố 4,5 công đất này cho ông Bùi Công N1 để lấy tiền điều trị bệnh cho cha, ông N đồng ý. Ông chỉ nghe kể lại bà L1 cố đất cho ông N1, còn cố như thế nào có giấy tờ, thời hạn, tiền cố bao nhiêu thì ông không biết. Do thời điểm này ông không biết 4,5 công đất này là của ông N, ông chỉ biết cha mẹ chết để đất lại thì ông hưởng nên khi bà H1 kêu ông chuyển nhượng thì ông đồng ý, có giấy tay chuyển nhượng do bà H1 giữ. Ông chuyển nhượng cho bà H1 diện tích đất khoảng hơn 2000m2, bà H1 đưa tiền mặt cho ông nhận là 90.000.000 đồng và 1,2 lượng vàng do bà H1 đứng ra chuộc đất từ ông N1.

Khi Nhà nước mở lộ (không nhớ rõ năm nào), tuyến lộ này có ảnh hưởng đến 4,5 công đất bà L1 đã cố cho ông N1, lúc này ông N1 thấy quyền lợi của mình bị ảnh hưởng (mất một phần đất nhận cố) nên ông N1 nói với ông (vì ông là con út trong nhà và là người nhận tiền bồi thường đất) trả lại 04 chỉ vàng đối với phần đất ông N1 nhận cố bị ảnh hưởng tuyến lộ, ông nhận tiền bồi thường đất và đã trả 04 chỉ vàng cho ông N1, vậy số đất còn lại (sau khi nhà nước thu hồi) chỉ cố cho ông Nông giá là 1,2 lượng vàng 24k.

Ông đồng ý theo yêu cầu của ông N hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với bà H1. Lý do đất này là của ông N, do lúc đầu ông không biết đất của ông N nên lấy chuyển nhượng cho bà H1. Ông đồng ý trả lại cho bà H1 số tiền 90.000.000 đồng vì thực tế ông có nhận của bà H1. Đối với 1,2 lượng vàng 24k mà bà H1 chuộc đất từ ông Bùi Công N1 thì ông không đồng ý trả vì 1,2 lượng vàng 24k là do bà L1 cố đất cho ông N1 lấy tiền về điều trị bệnh cho cha nên ông không đồng ý trả. Còn đối với 04 chỉ vàng 24k mà ông trả lại cho ông Bùi Công N1 do nhà nước làm lộ ảnh hưởng đến phần đất cố cho ông N1 thì ông không yêu cầu gì vì tiền này là do nhà nước bồi thường nên ông lấy một phần để trả lại cho ông N1 đối với phần đất ông N1 nhận cố đã bị ảnh hưởng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ khai phá. Cha tên Nguyễn Văn N2 (chết năm 2006), mẹ tên Lê Thị L2 (chết năm 2014). Vào khoảng năm 2005, cha mẹ có tặng cho ông N 02 công đất nuôi trồng thủy sản và chuyển nhượng cho ông N 2,5 công đất nuôi trồng thủy sản, tất cả là 4,5 công. Việc cha mẹ tặng cho 02 công đất và chuyển nhượng 2,5 công đất cho ông N có làm giấy tay vào 28/4/2005 (al). Chính bà và bà Nguyễn Thị H1 ký tên vào giấy tay chứng kiến việc tặng cho và chuyển nhượng đất nêu trên. Cha mẹ chuyển nhượng 2,5 công đất cho ông N giá 02 lượng vàng 24k. Ông N do không có tiền trả nên có hỏi mượn bà 02 lượng vàng 24k, bà đưa đủ vàng cho ông N và ông N trả cho cha bà tại thời điểm năm 2005 lúc làm giấy tay mua bán. Bà trực tiếp đưa vàng cho ông N và ông N trực tiếp giao vàng cho cha bà, giao tại nhà của cha bà. Ông N không quản lý, sử dụng đất, lý do ông N đi làm ăn ở Campuchia nên ông N cho bà mượn 4,5 công đất này canh tác, việc ông N cho bà mượn cũng không có giấy tờ vì là anh em với nhau, cho mượn tháng 4 năm 2005 (al). Đến tháng 8 năm 2006, cha bị bệnh nên bà có hỏi ý kiến ông N cố 4,5 công đất này cho ông Bùi Công N1 để lấy tiền điều trị bệnh cho cha, ông N đồng ý, giá cố 1,6 lượng vàng 24k, với thời hạn 03 năm sẽ chuộc lại. Nếu đến hạn không chuộc được thì ông Bùi Công N1 tiếp tục canh tác cho đến khi có tiền chuộc lại. Việc cố đất này cũng lập giấy tay và có bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn T ký tên chứng kiến vào giấy cố đất. Đến năm 2009, do không có tiền chuộc đất nên ông Bùi Công N1 vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng đất.

Năm 2016, ông T lấy đất đã cố cho ông N1 chuyển nhượng lại cho bà H1, bà H1 có đưa tiền cho ông T và đưa vàng cho ông N1 để chuộc lại đất, bà H1 đưa tiền bao nhiêu và vàng bao nhiêu thì bà không biết cụ thể. Còn lý do ông T lấy đất đã cố chuyển nhượng lại cho bà H1 là do ông T không biết đất này của ông N (do ông T đi làm ăn xa), ông T là con trai út trong gia đình, cha mẹ chết để đất lại thì ông T nghĩ sẽ hưởng phần đất đó nên ông T lấy chuyển nhượng cho bà H1. Còn việc chuyển nhượng giữa ông T với bà H1 như thế nào thì bà không biết.

Bà không yêu cầu ông N trả vàng cho bà trong vụ án này vì ông N hứa sẽ trả cho bà. Nếu sau này ông N không trả thì bà sẽ yêu cầu giải quyết ở một vụ án khác. Còn đối với số vàng 1,2 lượng vàng 24k đã cố đất cho ông N1 mà bà H1 đứng ra chuộc lại đất từ ông N1, trong trường hợp bà H1 có yêu cầu trả số vàng này thì bà đồng ý trả vì năm 2005 bà đứng ra cố đất cho ông N1 và có nhận vàng từ ông N1, ngược lại bà H1 phải trả đất lại cho ông N. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Công N1 không cung cấp lời khai cho Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị xã G, người đại diện theo ủy quyền ông Đỗ Thanh T2 trình bày: Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26 /2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định.

Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, Điều 101, Điều 104, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 106, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công N yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L giao trả diện tích đất 05m2 thuộc một phần thửa số 463 và một phần thửa số 481, tờ bản đồ số 06, đất tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (do ông N rút yêu cầu).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công N yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L trả lại diện tích đất tranh chấp, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H1, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H1 đối với diện tích đất tranh chấp 3.245m2
  3. Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L giao trả cho ông Nguyễn Công N diện tích đất theo đo đạc thực tế là 3.245m2 thuộc một phần thửa số 463 và một phần thửa số 481, tờ bản đồ số 06 (tương ứng thửa số 158, tờ bản đồ số 17 cũ), đất tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, đất có vị trí, số đo như sau:
    • - Hướng Đông giáp đất ông Lê Văn L có số đo 41,27m;
    • - Hướng Tây giáp K và Lộ G – Cạnh Đền (giáp một phần thửa 481) có số đo 45,54m;
  • - Hướng Nam giáp đất ông Trần Văn B có số đo 37,18m + 38,30m;
  • - Hướng Bắc giáp mương công cộng có số đo 34,55m + 39,89m

(Đính kèm bản án là Bản vẽ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B lập ngày 07/5/2024 (Bút lục số 151).

  1. Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H1 đối với diện tích đất theo đo đạc thực tế là 3.245m2, thuộc một phần thửa số 463 và một phần thửa số 481, tờ bản đồ số 06 (tương ứng thửa số 158, tờ bản đồ số 17 cũ), đất tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu là vô hiệu.
  2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Bà H1, ông L được quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ở một vụ án độc lập khác khi có yêu cầu.
  3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 851216 do Ủy ban nhân dân huyện G (nay thị xã G), tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 06/02/1996 cho bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa số 158, tờ bản đồ số 17 (nay là một phần thửa số 463 và một phần thửa số 481, tờ bản đồ số 06), diện tích 3.245m2, đất tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
  4. Ông Nguyễn Công N được quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng diện tích đất nêu trên theo quy định pháp luật.

Bản án còn quyết định về án phí, và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm trong hạn luật định bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L có đơn kháng cáo đề nghị toà án phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm, hoặc hủy Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện, các đương sự không hoà giải với nhau về việc giải quyết vụ án, người kháng cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo.

Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] ] Ngày 06/02/1996 Ủy ban nhân dân huyện G (nay thị xã G), tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 851216 cho bà Nguyễn Thị H1, thửa số 158, tờ bản đồ số 17 cũ (nay là một phần thửa số 463 và một phần thửa số 481, tờ bản đồ số 06), (Bút lục số 44). Quyền sử dụng đất nêu trên chưa đăng ký giao dịch bảo đảm tại tổ chức tín dụng nào. Hiện trạng đất tranh chấp: Đất nuôi trồng thủy sản bà H1 đang thả tôm, có một số cây tạp, không có công trình gì trên đất. Phần đất tranh chấp hiện nay do bà H1, ông L đang quản lý, sử dụng.

[2] Xét đơn kháng cáo của ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị H1, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn ông Nguyễn Công N, bị đơn bà Nguyễn Thị H1, ông Lê Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn T đều thừa nhận đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ các ông bà là cụ Nguyễn Văn N2 (chết năm 2006) và cụ Lê Thị L2 (chết năm 2014) khai phá. Năm 2005, cụ Nguyễn Văn N2 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Công N 2,5 công tầm cấy đất nuôi trồng thủy sản với giá 2,5 lượng vàng 24k và tặng cho ông N 02 công tầm cấy. Tất cả vừa chuyển nhượng, vừa tặng cho là 4,5 công tầm cấy. Việc chuyển nhượng và tặng cho có lập giấy tay ngày 28/4/2005 (âl), có bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L1 (là con của cụ N2) ký tên chứng kiến xác nhận vào Tờ chuyển nhượng, tặng cho đất. Ông N đã giao đủ vàng cho cụ N2 và ông N đã nhận đất sử dụng. Bà H1, bà L1 xác định đúng là chữ ký của các bà ký tên chứng kiến trong giấy tay chuyển nhượng đất, tặng cho đất nêu trên. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là của ông N nhưng ông T lại lấy chuyển nhượng cho bà H1, trong khi ông T không có quyền đối với tài sản trên. Ông T xác định diện tích đất trên bà H1 đã đưa 1,2 lượng vàng 24k chuộc đất từ ông Bùi Công N1 và ông đã nhận của bà H1 số tiền 90.000.000 đồng, lý do ông chuyển nhượng đất cho bà H1 là vì ông nghĩ ông là con út trong gia đình, cha mẹ chết để lại cho ông, nay ông biết đất đã được cha mẹ chuyển nhượng và cho ông N nên đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với bà Nguyễn Thị H1 và đồng ý trả cho bà H1 số tiền đã nhận là 90.000.000 đồng.

Xét thấy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T với bà Nguyễn Thị H1 được các đương sự xác định có xảy ra trên thực tế nhưng việc chuyển nhượng không lập thành văn bản, chỉ giao kết bằng lời nói và ông T cũng không phải chủ sử dụng đất nên ông T chuyển nhượng đất cho bà H1 là không đúng quy định pháp luật. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông N yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và bà H1 vô hiệu.

Bản án sơ thẩm xem xét đánh giá chứng cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[2.2] Tại phiên tòa hôm nay bên kháng cáo yêu cầu hủy bản án phúc thẩm vì cho rằng tòa án sơ thẩm không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đồng thời bên kháng cáo cho rằng diện tích đất phải trả cho ông N bị chồng lấn khoảng 1.000m2 sang đất của bên bị đơn. Xét thấy ý kiến của bên bị đơn là không có căn cứ bởi lẽ; Bên bị đơn thừa nhận đã được Tòa án giải thích về quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu, tuy nhiên bên bị đơn không có yêu cầu giải quyết. Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết và tuyên các bên có quyền khởi kiện vụ án khác là có căn cứ đúng pháp luật. Đối với diện tích đất tranh chấp khi giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét thẩm định tại chỗ trên cơ sở chỉ dẫn của hai bên đương sự, và không có khiếu nại gì.

[3] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá chứng cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công N3 là có căn cứ. Ông L và bà H1 kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ nào mới làm thay đổi nội dung quyết định của bản án sơ thẩm nên kháng cáo không có căn cứ được chấp nhận.

Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L cùng phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 248 BLTT dân sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 26 /2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, Điều 101, Điều 104, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 106, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công N yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L giao trả diện tích đất 05m2 thuộc một phần thửa số 463 và một phần thửa số 481, tờ bản đồ số 06, đất tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (do ông N rút yêu cầu).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công N yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L trả lại diện tích đất tranh chấp, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H1, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H1 đối với diện tích đất tranh chấp 3.245m2
  3. Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L giao trả cho ông Nguyễn Công N diện tích đất theo đo đạc thực tế là 3.245m2 thuộc một phần thửa số 463 và một phần thửa số 481, tờ bản đồ số 06 (tương ứng thửa số 158, tờ bản đồ số 17 cũ), đất tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, đất có vị trí, số đo như sau:
    • - Hướng Đông giáp đất ông Lê Văn L có số đo 41,27m;
    • - Hướng Tây giáp K và Lộ G – Cạnh Đền (giáp một phần thửa 481) có số đo 45,54m;
    • - Hướng Nam giáp đất ông Trần Văn B có số đo 37,18m + 38,30m;
    • - Hướng Bắc giáp mương công cộng có số đo 34,55m + 39,89m

    (Đính kèm bản án là Bản vẽ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B lập ngày 07/5/2024 (Bút lục số 151).

  4. Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H1 đối với diện tích đất theo đo đạc thực tế là 3.245m2, thuộc một phần thửa số 463 và một phần thửa số 481, tờ bản đồ số 06 (tương ứng thửa số 158, tờ bản đồ số 17 cũ), đất tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu là vô hiệu.
  5. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Văn L không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Bà H1, ông L được quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ở một vụ án độc lập khác khi có yêu cầu.
  6. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 851216 do Ủy ban nhân dân huyện G (nay thị xã G), tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 06/02/1996 cho bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa số 158, tờ bản đồ số 17 (nay là một phần thửa số 463 và một phần thửa số 481, tờ bản đồ số 06), diện tích 3.245m2, đất tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
  7. Ông Nguyễn Công N được quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng diện tích đất nêu trên theo quy định pháp luật.
  8. Về án phí:
    • - Ông Lê Văn L được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biêm lai thu tiền số 0000334 ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu. Bà H1 đã nộp đủ.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu (5)
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu; (1)
  • - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu; (1)
  • - Các đương sự (1)
  • - Lưu VT (5), DS (2) (Án- Đức Anh). (1)
  • (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 124/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công N, sinh năm 1967 - Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1962 Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger