Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 114/2025/HS-PT

Ngày: 24/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Phan Nhựt Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Hoàng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 1050/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 do có kháng kháng cáo của bị cáo, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 485/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Ngọc M (tên gọi khác: L); Sinh ngày 25 tháng 6 năm 1993 tại tỉnh Nghệ An; Thường trú: 59 Đường D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Chỗ ở: G, Tổ I, Khu G, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Phương T1; Bị cáo có vợ tên Lê Thị Thu H, có 01 con (sinh ngày 10/10/2023); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam ngày 27/10/2023 - Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Tuyết N là luật sư thuộc Văn phòng L3 thuộc Đoàn luật sư Thành phố hồ C2 - Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

Ngân hàng TMCP Q; Trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà Sailing Tower, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Chi nhánh B2-Phòng G1; Địa chỉ: Số B đường M, khu T hành chính, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện ủy quyền:

  1. Ông Nguyễn Trường T2, chức vụ: cán bộ Ngân hàng – Có mặt.
  2. Ông Phạm H1, chức vụ: cán bộ Ngân hàng– Vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Trường C, chức vụ: cán bộ Ngân hàng- Vắng mặt.
  4. Ông Lữ Bá Đ, chức vụ: cán bộ Ngân hàng- Vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo Lâm Phúc L1, Nguyễn Thị Bích T3, Đặng Hoàng V không có kháng cáo, không bị kháng nghị; bị hại và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ: Cướp tài sản tại Ngân hàng S số 2/4A, Nguyễn Văn B, ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng tháng 9/2023, Nguyễn Ngọc M, Lâm Phúc L1, Nguyễn Thị Bích T3 quen biết nhau qua trang Facebook “Hội những người vỡ nợ”. Do cần tiền tiêu xài nên M nảy sinh ý định đi cướp tiền Ngân hàng và rủ L1, T3 cùng thực hiện, L1 và T3 đồng ý. Sau đó, M đã lên trang mạng Facebook tên “Linh N1” đặt mua 01 khẩu súng tự chế (dạng giống súng Rulo, màu bạc, bắn đạn chì) và 06 viên đạn bằng chì, 01 bình xịt hơi cay với giá 4.500.000 đồng rồi mang về cất giấu. Vài ngày sau, M dẫn L1 và T3 ra bãi đất trống ở tỉnh Bình Dương bắn thử súng.

Đầu tháng 10/2023, M gọi điện thoại rủ L1 và T3 ra gặp nhau tại quán cà phê ở ngã Ba G, tỉnh Long An. Tại đây, M rủ L1, T3 đi cướp tài sản tại các Ngân hàng ở tỉnh Bình Dương, thì L1 và T3 đồng ý. Sau nhiều lần khảo sát, thấy các Ngân hàng ở tỉnh Bình Dương thường xuyên có đông người qua lại, khó thực hiện nên M nói T3 và L1 chuyển sang đi khảo sát Ngân hàng ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, L1 nói Ngân hàng S1 (S), số B, Nguyễn Văn B, Ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thường vắng người qua lại, giáp ranh nhiều tỉnh, nếu cướp tiền ở đây sẽ dễ tẩu thoát thì cả nhóm đồng ý. Từ ngày 08/10/2023 đến ngày 23/10/2023, cả nhóm lên kế hoạch và khảo sát địa điểm Ngân hàng nêu trên.

Ngày 22/10/2023, M và L1 ra chợ trên địa bàn tỉnh Bình Dương mua thêm 01 khẩu súng nhựa màu đen để làm công cụ đe dọa nhân viên ngân hàng. Còn T3 thì lên mạng xã hội mua 01 xe mô tô màu đỏ, biển số 55P4-1791 giá 2.500.000 đồng về giao cho L1 sử dụng, L1 mua sơn về và sơn lại xe thành màu đen nhằm che giấu đặc điểm xe.

Chiều ngày 23/10/2023, M thuê 01 xe ô tô 05 chỗ hiệu Huyndai Accent, màu trắng, biển số 83A-134.42 của anh Nguyễn Cát T4 trong hai ngày giá 1.800.000 đồng, do không có tiền nên M thế chấp xe mô tô Yamaha Janus, biển số 93P2-071.84 cho anh T4 rồi Mỹ mang xe ô tô trên về giao cho T3 sử dụng.

Sau khi chuẩn bị xong công cụ và phương tiện thì cả nhóm thống nhất lại kế hoạch cướp tiền Ngân hàng cụ thể như sau: L1 sẽ chạy xe mô tô biển số 55P4-1791 đến Ngân hàng, còn T3 lái ô tô chở M đến gần Ngân hàng, sau đó M cùng L1 cầm súng đi vào Ngân hàng để đe dọa, khống chế bảo vệ, nhân viên và lấy tiền, còn T3 sẽ dừng xe chờ sẵn ở ngoài. Khi cướp được tiền, M và L1 sẽ chạy xe mô tô ra khỏi Ngân hàng, hướng về đường N, xã X, huyện H tẩu thoát, đốt xe mô tô để phi tang, xóa dấu vết rồi tất cả sẽ đi xe ô tô về Thành phố V. Cả nhóm chuẩn bị quần áo, túi ba lô vải màu đen dùng đựng tiền, 01 chai đựng 02 lít xăng để đốt xe mô tô phi tang.

Thực hiện kế hoạch trên, khoảng 08 giờ ngày 24/10/2023, T3 lái xe ô tô biển số 83A-134.42 chở Mỹ, còn L1 điều khiển xe mô tô biển số 55P4-1791, cả nhóm đi từ nhà nghỉ ở tỉnh Bình Dương đến gần trước Ngân hàng S nêu trên. M xuống xe ô tô đi bộ đến chỗ L1 đang đứng, rồi L1 điều khiển xe mô tô chở M đến trước Ngân hàng chờ vắng người sẽ vào cướp tài sản. Đến khoảng 10 giờ 27 phút cùng ngày, khi thấy Ngân hàng S vắng người, L1 chở M chạy vào chỗ giữ xe trước cửa Ngân hàng, rồi cả hai đi bộ đến tiếp cận anh Phan Ngọc Hải B1, anh Nguyễn Tam Minh P đang trực bảo vệ trước cửa Ngân hàng. M và L1 rút súng từ trong người ra khống chế anh B1, anh P dẫn vào bên trong Ngân hàng, M dùng chân đạp ngã anh B1 và anh P nằm xuống sàn nhà rồi cầm súng bằng tay phải đưa lên trần nhà bắn 01 phát đạn gây tiếng nổ lớn để uy hiếp. M yêu cầu các nhân viên trong Ngân hàng đưa tay lên đầu và nằm xuống nền nhà, còn L1 thì cầm súng nhựa và túi ba lô đi lại quầy thu ngân yêu cầu thủ quỹ ngân hàng là chị Trần Thị L2 lấy toàn bộ tiền trong tủ bỏ vào túi ba lô. Cướp được tiền, M và L1 nhanh chóng đi ra khỏi Ngân hàng.

Sau khi ra ngoài, L1 đưa M cầm túi ba lô đựng tiền rồi L1 điều khiển xe mô tô chở Mỹ ra đường N hướng về đường T tẩu thoát. Trên đường đi, M dùng điện thoại gửi vị trí cho T3 chạy theo đến điểm hẹn, gặp nhau tại bờ kênh gần trại cai nghiện N, thuộc Ấp E, xã X, huyện H. Sau khi cả nhóm gặp nhau, M lấy tiền cướp được bỏ qua vali bằng nhựa màu hồng của T3 để trên xe. L1 nói Mỹ và T3

đứng ở phía ngoài đợi rồi L1 chạy xe mô tô vào phía bên trong bãi đất trống, dùng chai xăng đã mua trước đó đổ lên xe và đốt xe cùng với áo khoác và khẩu súng nhựa rồi quay lại xe. M sau khi lấy tiền bỏ vào vali thì cũng đốt ba lô vải để phi tang.

Sau đó, T3 lái xe ô tô chở M và L1 chạy về hướng Quận A. Trên đường đi, L1 nói hết tiền xài và đề nghị chia tiền trên xe nhưng M không đồng ý và nói chạy ra Vùng Tàu mới chia tiền. Lúc này, L1 mở vali lấy ra khoảng 43.000.000 đồng từ cọc tiền 200.000 đồng ra chia cho 03 người để làm phí đi đường. Cả nhóm chạy đi một đoạn thì dừng xe để L1 xuống đi bộ nhằm đánh lạc hướng Công an, L1 dặn T3 đi đường mua thêm túi ba lô cho L1. Khi đi trên đường H, Quận A, Mỹ kêu T3 dừng xe để M mang vali đựng tiền xuống đi bộ, và nói T3 chạy xe về tỉnh Bình Dương trả xe đã thuê. Sau khi trả xe ô tô cho anh Nguyễn Cát T4, T3 lấy xe mô tô của Mỹ đã thế chấp trước đó mang đi gửi ở siêu thị CoopMart tỉnh B. Sau đó, M đặt xe công nghệ G chạy về hướng sân bay T, rồi đón xe ô tô khác chở về thành phố B, tỉnh Đồng Nai. M tiếp tục đón xe ô tô khác về Vũng Tàu, thuê phòng nghỉ tại khách sạn T8, số A T, Phường B, thành phố V và điện thoại thông báo cho L1 và T3 biết hẹn gặp nhau tại khách sạn. Khoảng 16 giờ ngày 24/10/2023, T3 đến phòng số 204 tại khách sạn T8 gặp Mỹ, còn L1 thì đứng ở trước khách sạn chờ. Tại đây, M và T3 mở vali lấy tiền ra đếm thấy có tất cả 05 cọc tiền loại mệnh giá 500.000 đồng, 06 cọc tiền loại mệnh giá 200.000 đồng, 01 cọc tiền loại mệnh giá 100.000 đồng. Mỹ và T3 điện thoại cho L1 thông báo số tiền đã cướp được là 3.800.000.000 đồng, cả ba thỏa thuận thống nhất chia tiền như sau: Mỹ được hưởng là 1.500.000.000 đồng (gồm 03 cọc loại tiền 500.000 đồng), L1 được hưởng 1.300.000.000 đồng (02 cọc tiền loại 500.000 đồng và 01 cọc tiền loại 200.000 đồng và 01 cọc 100.000 đồng), T3 hưởng 1.000.000.000 đồng (05 cọc loại tiền 200.000 đồng).

Sau khi chia tiền, T3 lấy phần tiền của L1 cất vào túi ba lô màu xanh đưa cho L1, rồi L1 bỏ trốn. M cất giấu tiền đã cướp được vào túi ba lô màu đen, khẩu súng cất vào túi vải nhỏ màu xám, còn bình xịt hơi cay thì đưa cho T3 cất giữ, rồi M rời khỏi khách sạn và bỏ trốn. Một lúc sau, T3 cũng lấy tiền được chia bỏ vào vali rồi rời khỏi khách sạn.

Trên đường đi trốn, M tìm người bạn tên D (không rõ lai lịch) mượn xe ô tô (không nhớ biển số xe) để về Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến giữa cầu Đ (hướng từ thành phố B về Thành phố Hồ Chí Minh), M dừng xe lại giữa cầu và ném khẩu súng cùng túi vải màu xám xuống sông. Sau đó, M lái xe về tiệm cầm đồ “Bảo Tín” tại địa chỉ hẻm D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, lấy 100.000.000 đồng chuộc lại xe ô tô hiệu KIA biển số 61A-910.70 đã cầm cố trước đó. M gửi xe ô tô đã mượn của D ở tiệm rửa xe và thông báo cho D biết để đến lấy.

Sau đó, M điều khiển xe ô tô hiệu KIA biển số 61A-910.70 đến nhà của anh Lê Quang H2 và chị Huỳnh Mai K, tại số D B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và nhờ chị K đổi giúp 100.000.000 đồng thành 5.500 đôla Singapore rồi lái xe ra sân bay quốc tế T gửi xe ở bãi, đặt mua vé máy bay qua mạng để sang Singapore. Sau đó, M ngủ trong xe đến sáng ngày 25/10/2023, đi ra sân bay quốc tế T làm thủ tục xuất cảnh thì bị Công an bắt giữ cùng với số tiền còn lại 1.300.000.000 đồng và 5.500 đôla Singapore.

Đối với Lâm Phúc L1 sau khi nhận tiền từ T3, L1 đón xe ôm đi đến cửa hàng mua bán xe mô tô tại số D B, thành phố V mua 01 xe mô tô hiệu AirBlack màu đỏ đen, biển số 72G1-094.45 với giá 11.500.000 đồng. mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen giá 29.000.000 đồng, 01 sạc điện thoại giá 900.000 đồng, 01 tai nghe giá 6.000.000 đồng, rồi điều khiển xe mô tô về thành phố B thuê nhà nghỉ để ngủ. Đến 05 giờ sáng ngày 25/10/2023, L1 vào bãi xe khu công nghiệp A, tỉnh Đồng Nai, gửi xe và cất giấu thẻ giữ xe dưới chân cầu gần đó rồi đón xe buýt đi về quận B, Thành phố Hồ Chí Minh mua quần áo khoảng 1.500.000 đồng. L1 thay quần áo và đón xe taxi đi đến khu vực gần bệnh viện C3, lên mạng đặt mua 01 Thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Hồ Anh T5; 01 Thẻ căn cước công dân số [...] mang Phạm Minh T6; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Hồ Anh T5 của một người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 2.500.000 đồng. Sau đó, L1 đón xe đi Thành phố Cần Thơ và điện thoại cho Đặng Hoàng V nhờ thuê xe ô tô, đón L1 ở bến xe C, L1 sẽ trả tiền công cho V 5.000.000 đồng. Ngày 26/10/2023, V thuê xe ô tô biển số 71A-030.68 của chị Trần Thị N2 rồi đến đón L1 chở xuống huyện B, tỉnh Bình Dương. Sau đó, L1 và V thuê nhà nghỉ, đến 21 giờ cùng ngày, L1 kêu V chở đi mua thêm quần áo hết 600.000 đồng, và nhờ V đi mua 01 sim điện thoại 200.000 đồng. Sau đó, L1 kêu V chở về huyện B, tỉnh Long An và đưa cho V 7.000.000 đồng (5.000.000 đồng tiền trả công cho V chở đi và 2.000.000 đồng tiền thuê xe). L1 định trốn sang Campuchia nhưng sợ bị bắt nên đón xe buýt về bến xe M, Thành phố Hồ Chí Minh rồi đi xe khách về tỉnh Kiên Giang. Đến ngày 27/10/2023, L1 đổi ý, đón xe buýt về lại B, tỉnh Long An định trốn sang Campuchia thì bị Công an bắt giữ cùng với số tiền còn lại là 1.224.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Thị Bích T3 sau khi được chia tiền, T3 đón xe taxi đi về nhà trọ tại địa chỉ B L, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh và mở vali ra đếm 05 cọc tiền loại mệnh giá 200.000 đồng, tổng cộng là 957.000.000 đồng, còn thiếu 43.000.000 đồng do L1 đã rút ra chia lúc T3, M, L1 cùng đi trên xe ô tô biển số 83A-134.42. Đến ngày 25/10/2023, T3 bị C1 bắt giữ cùng với số tiền 957.000.000 đồng và 07 tờ tiền giả mệnh giá 200.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 485/2024/HSST ngày 24-9-2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 168; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M 20 (hai mươi) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2023.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại: CERATO 1.6MT, Số máy: G4FGLH714420, Số khung: RNYBA41M6MC212801, màu sơn đỏ, biển số 61A-910.70.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Lâm Phúc L1, Nguyễn Thị Bích T3, Đặng Hoàng V; tịch thu tiêu hủy; án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 27-9-2024, bị cáo Nguyễn Ngọc M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 16-10-2024, Ngân hàng thương mại cổ phần Q có đơn kháng cáo đề nghị giao ô tô biển số 61A-910.70 của bị cáo Nguyễn Ngọc M cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để kê biên, phát mại để thu hồi nợ cho ngân hàng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Ngọc M và luật sư của bị cáo trình bày kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với các lý do: bị cáo là con của gia đình có công với cách mạng. Ngoài ra, bị cáo phạm tội lúc đó con của bị cáo mới 01 tháng tuổi. Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ số tiền cho ngân hàng.

Đối với phương tiện mà bị cáo bị tuyên tịch thu: xe của bị cáo đang thế chấp ở ngân hàng, việc bị tịch thu thì sẽ ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của gia đình bị cáo.

Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: bị cáo mua ô tô từ nguồn vay ngân hàng chứ không phải từ nguồn tiền mà bị cáo phạm tội, đề nghị HĐXX tuyên giao chiếc xe cho cơ quan thi hành án để đảm bảo cho khoản vay của bị cáo M.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 485/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

1/ Bị cáo Nguyễn Ngọc M (tên gọi khác: L) bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 20 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015. Ngày 27/9/2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo khác là: Lâm Phúc L1, Nguyễn Thị Bích T3 và Đặng Hoàng V không kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

2/ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt V1) kháng cáo về vấn đề xử lý xe ô tô biển số 61A- 91070 trong vụ án.

[1] Nội dung vụ án: Tại phiên Tòa, bị cáo M thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm được tóm tắt nêu trên.

[2] Nhận định của Hội đồng xét xử: Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 24/10/2023, tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần S1, số B N, ấp F, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo: Nguyễn Ngọc M, Lâm Phúc L1, Nguyễn Thị Bích T3 đã có hành vi sử dụng xe ô tô, mô tô, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ dùng làm phương tiện và hung khí để đe dọa nhằm khống chế bảo vệ và nhân viên của ngân hàng rồi chiếm đoạt tổng số tiền 3.800.000.000 đồng. Sau khi thực hiện hành vi cướp tài sản, các bị cáo tẩu thoát khỏi hiện trường, chia nhau số tiền làm phí chạy trốn. Sau đó, cả ba hẹn nhau tại khách sạn T8 thuộc thành phố V để chia nhau số tiền đã chiếm đoạt được. Trong đó, M được chia 1.500.000.000 đồng; L1 được chia 1.300.000.000 đồng và T3 được chia 957.000.000 đồng. Với hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Thị Bích T7 và Lâm Phúc L1 đã phạm vào tội “cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 168 của Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. Ngoài tội “Cướp tài sản” các bị cáo Nguyễn Thị Bích T3, Lâm Phúc L1 và Đặng Hoàng V còn phạm vào tội “Lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, do các bị cáo T3, L1 và V không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét tội danh và hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo này.

[3] Xét về phần lượng hình đối với tội cướp tài sản: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc M, Lâm Phúc L1 và Nguyễn Thị Bích T3 là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của tổ chức, xâm phạm đến sức khỏe, tinh thần của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm cũng đã cân nhắc tính chất, vai trò đồng

phạm và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội.

Bị cáo Nguyễn Ngọc M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo M với vai trò là người chủ mưu, cầm đầu, khởi xướng, rủ rê các bị cáo T3, L1 thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân là người đặt mua khẩu súng tự chế, đạn thể thao, bình xịt hơi cay để làm công cụ phạm tội và bị cáo cũng là người trực tiếp xông vào ngân hàng, khống chế bảo vệ, bắn 01 phát đạn lên trần nhà để uy hiếp tinh thần của các nhân viên ngân hàng để chiếm đoạt số tiền 3.800.000.000 đồng, qua đó được chia số tiền 1.500.000.000 đồng nên bị cáo có vai trò cao nhất so với bị cáo T3 và L1. Hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo cho nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo M.

[4] Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt V1) kháng cáo về vấn đề xử lý xe ô tô biển số 61A- 91070 trong vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng thế chấp tài sản xe ô tô mang biển số 61A-91070 giữa ngân hàng V1 và bị cáo M là giao dịch dân sự và các Điều khoản mà phía ngân hàng viện dẫn để yêu cầu được xử lý tài sản này (chiếc xe ô tô 61A-91070) nhằm mục đích đảm bảo khoản vay thế chấp là không phù hợp, bởi lẽ: Nguyễn Ngọc M đã sử dụng số tiền 100.000.000 đồng từ nguồn tiền phạm tội mà có để chuộc chiếc xe ô tô nói trên từ tiệm cầm đồ “Bảo Tín” ; đồng thời dùng chiếc xe này làm phương tiện để bỏ trốn. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu xe ô tô biển số 61A-91070 để sung quỹ nhà nước là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo này của Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt là V1) và giành quyền khởi kiện vụ án dân sự giữa ngân hàng với bị cáo M là đúng pháp luật.

[5] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 485/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Do kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc M;
    Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt V1).
    Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 485/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc M phạm tội “Cướp tài sản”.
    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17 và Điều 58 của Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M 20 (hai mươi) năm tù về tội “Cướp tài sản”.
    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/10/2023.
    Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc M để đảm bảo việc thi hành án.
  3. Căn cứ Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại CERATO 1.6MT, số máy: G4FGLH714420, số khung: RNYBA41M6MC212801, màu sơn đỏ, biển số 61A-910.70.
  4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc M phải chịu 200.000 đồng.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP Q (V1) phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0041624 ngày 21-10-2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các thẩm phán Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Hoàng Thanh Dũng Phan Nhựt Bình Phan Văn Yên

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP Hồ Chí Minh;
  • - Phòng thi hành án hình sự- TAND TP Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP Hồ Chí Minh;
  • - Trại Tạm giam CA TP Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo (qua BGT Trại TG);
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ 01, HCTP 5 (DTTP 16b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2025/HS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (cướp tài sản)

  • Số bản án: 114/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc M, kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 485/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger