Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày 12-12-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thọ Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Hoa Vinh;
  2. Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trương Phi Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Thị N, sinh ngày 06/4/1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Tấn Q (đã chết) và bà Phạm Thị N1; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án: Không; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 05/5/2019 bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp cai nghiện tại xã thời hạn 03 tháng; ngày 24/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số: 63/QĐ-TA, về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 10/8/2021; bị bắt và tạm giữ từ ngày 15/7/2024 đến ngày 23/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, vào khoảng 22 giờ ngày 15/7/2024, Phan Thị N thông qua người bạn tên V (không rõ nhân thân, lai lịch) cho N số điện thoại của người bán ma túy, N gọi vào số điện thoại 0974.143.xxx để hỏi mua ma túy với số tiền 400.000 đồng thì được 01 người phụ nữ nghe máy và đồng ý bán ma túy. Một lúc sau, có 01 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) dùng số điện thoại khác (không nhớ rõ) gọi cho N thông qua mạng xã hội Z có tài khoản “N” đồng ý bán ma túy cho N với số tiền 400.000 đồng và chỉ cho N biết chỗ lấy ma túy được cất giấu trong khẩu trang màu trắng cuộn tròn được treo trên cây cỏ cặp hàng rào Trường tiểu học T1 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, người đàn ông này yêu cầu N trả tiền bằng hình thức chuyển khoản sau khi nhận ma túy. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 70K1-570.76 đến địa điểm trên và lấy 01 khẩu trang màu trắng cuốn tròn bên trong có 01 đoạn ống hút bằng nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong đoạn ống hút có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, lúc này N chưa chuyển khoản trả tiền mua ma túy, mà mang về nhà, khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện T thì bị lực lượng Công an xã T phát hiện bắt quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Phan Thị N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 16/7/2024 đối với Phan Thị N thể hiện: Dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

* Kết luận giám định số 1413/KL-KTHS, ngày 19/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M) bên trong 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng 0,2043 gam.

* Kết luận giám định số 1576/KL-KTHS, ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 100.000 có số sê ri như sau: BU 18772396; XJ 11189034; QJ 13720306; WQ 17965006 cần giám định là tiền thật.

* Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh tài sản Phan Thị N không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.

Tại Bản cáo trạng số 120/CT-VKSTC, ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phan Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Thị N mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Phan Thị N.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Phan Thị N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Phan Thị N: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của bị cáo thể hiện: Vào khoảng 22 giờ 40 phút, ngày 15/7/2024 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Phan Thị N đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,2043 gam với mục đích để sử dụng, thì bị Công an xã T, huyện T kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang cùng với tang vật. Hành vi của bị cáo Phan Thị N đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Do đó Bản cáo trạng số 120/CT-VKSTC ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phan Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là loại chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm việc trồng, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép, nên hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần có mức án nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

4.1 Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.

4.2 Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo N thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Nhân thân: Bị cáo Phan Thị N đã bị Ủy ban nhân dân xã T áp dụng biện pháp cai nghiện tại xã thời hạn 03 tháng và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, mặc dù đã được xóa tiền sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay còn thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý thể hiện ý thức của bị cáo coi thường pháp luật.

[6] Xét tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo cần áp dụng hình phạt chính là phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo Phan Thị N ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xét thấy bị cáo Phan Thị N không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số Imeil: 352884794506882 là phương tiện bị cáo N sử dụng liên lạc để mua ma túy về sử dụng; số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng thu của bị cáo N là tiền bị cáo dùng để mua ma túy nhưng chưa kịp nộp vào tài khoản chuyển trả cho người đàn ông bán ma túy cho bị cáo nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
  • + 01 (một) bì thư được niêm phong ký số 1413 có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N2, Trợ lý giám định Tạ Minh P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa 0,1662 (không phẩy một nghìn sáu trăm sáu mươi hai) gam, chất ma túy loại Methamphetamine là số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án; 01 (một) cái khẩu trang màu trắng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Đối với người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo “N” liên lạc qua Zalo bán ma túy cho bị cáo N, hiện chưa làm việc được khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với người phụ nữ sử dụng số điện thoại di động 0974.143.xxx bán ma túy cho bị cáo N quá trình điều tra xác định được chủ thuê bao số điện thoại là Trần Kiều Diễm T, sinh năm 1993, địa chỉ: Số D, Lô C, chung cư Ấ, phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, qua xác minh hiện T không còn sống tại địa phương, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

[10] Về án phí: Bị cáo Phan Thị N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Phan Thị N 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 15/7/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  4. - Tịch thu tiêu hủy:

    • + 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu số 1413 có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N2, Trợ lý Giám định Tạ Minh P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa 0,1662 (không phẩy một nghìn sáu trăm sáu mươi hai) gam, chất ma túy loại Methamphetamine;
    • + 01 (một) cái khẩu trang màu trắng;

    - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:

    • + 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số Imeil: 352884794506882;
    • + Số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng đựng trong 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký xác nhận của Giám định viên Phạm Thị Minh N3 và dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh T.

    (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
  6. Bị cáo Phan Thị N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phan Thị N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - PKTNV- TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Châu;
  • - Chi cục THA DS huyện Tân Châu;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án. (L)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đã ký

Nguyễn Thọ Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thị N tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger