|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2024/HS-ST
Ngày 11-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Huệ; bà Đào Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Ngọc Thắng, Thư ký Tòa án nhân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đức, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 104/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:
1. Nguyễn Thị Thu H. sinh ngày 04/6/1980. Nơi ĐKNKTT: khu X, xã X, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Chỗ ở: thôn Đ, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 6/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...] do Bộ C1 cấp ngày 07/9/2021; Bố: Nguyễn Ngọc Q, sinh năm: 1954. Mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1958. Gia đình có 05 chị em. Bị can là con thứ nhất. Chồng: Không. Bị can có hai con. Con lớn sinh năm: 2008, con nhỏ sinh ngày 30/5/2023. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/4/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 03 năm về tội: Lưu hành tiền giả. Bị cáo tại ngoại và hiện ở tại thôn Đ, xã C, thị xã S ( có mặt)
2. Nguyễn Thị N, sinh ngày 10/02/1985.Nơi ĐKNKTT: Đội 8, thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: Số H, đường Q, thôn Đ, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Không biết chữ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...], do Bộ C1 cấp. Bố: Nguyễn Xuân H1, sinh năm: 1956. Mẹ: Trần Thị Đ, sinh năm: 1950. Gia đình có 08 chị em. Bị can là con thứ sáu. Chồng: Nguyễn Văn B (đã chết). Bị can có ba con. Con lớn sinh năm: 2008, con nhỏ sinh năm: 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2024 đến ngày 05/8/2024 được tại ngoại tại địa phương: thôn Đ, xã C, thị xã S. Có mặt
1
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Tăng Thị H2, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Khu D, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả cuộc điều tra đã xác định được như sau:
Ngày 01/6/2024, Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1980, ký hợp đồng thuê ngôi nhà số H đường Q, thôn Đ, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội của anh Nguyễn Đức N1, trong thời gian 02 năm, với giá tiền thuê là 4.000.000 đồng/1 tháng để mở quán kinh doanh. Sau khi thuê nhà của anh N1 thì H sử dụng ngôi nhà trên để mở quán lấy tên là “Khánh Ngọc” để hoạt động đấm lưng, tẩm quất. Nguyễn Thị Thu H bảo Nguyễn Thị N và Tăng Thị H2, sinh năm: 1984, ở: Khu D, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ đến làm việc tại quán "" của H2. Nguyễn Thị Thu H thỏa thuận, thống nhất với Tăng Thị H2 và N là: Vì Nguyễn Thị Thu H bận con nhỏ nên không thường xuyên ở quán để trông coi, quản lý được nên giao cho N và Tăng Thị H2 vừa làm việc, vừa trông nhà. Hàng tháng Nguyễn Thị Thu H sẽ trả tiền thuê nhà, tiền điện tiền nước, tiền ăn và một ngày sẽ trả cho N và Tăng Thị H2 mỗi người là 50.000 đồng. Khi có khách đến đấm lưng thì N và Tăng Thị H2 thu tiền vé là 200.000 đồng. Số tiền mà Tăng Thị H2 và N thu được sẽ chia đôi cho Nguyễn Thị Thu H mỗi người một nửa. Số tiền thu được của ngày hôm trước thì đến ngày hôm sau Nguyễn Thị Thu H đến gặp N và Tăng Thị H2 để lấy nếu Nguyễn Thị Thu H không đến lấy thì N và Tăng Thị H2 mang tiền đến nhà đưa cho Nguyễn Thị Thu H.
Đến khoảng giữa tháng 7/2024, Nguyễn Thị Thu H biết một số khách đến tẩm quất, đấm lưng có nhu cầu muốn mua dâm (quan hệ tình dục) với nhân viên. Do vậy, Nguyễn Thị Thu H đã nói với N và Tăng Thị H2 là “dạo này quán ít khách quá không đủ tiền chi tiêu, sinh hoạt, hai chị em có muốn bán dâm (quan hệ tình dục) cho khách để có thêm khách và kiếm thêm tiền không?”. N và Tăng Thị H2 đồng ý và hỏi Nguyễn Thị Thu H là: “nếu bán dâm cho khách thì thu của khách bao nhiêu tiền?”. Nguyễn Thị Thu H nói: “nếu bán dâm cho khách thì sẽ thu của khách 300.000 đồng/1 lần bán dâm còn nếu quá trình bán dâm khách cho thêm tiền thì Tăng Thị H2 và N sẽ được hưởng tiền mà khách cho thêm và không phải chia cho Nguyễn Thị Thu H, số tiền mà Tăng Thị H2 và N bán dâm được cho khách thì Nguyễn Thị Thu H sẽ lấy một nửa”. Nguyễn Thị Thu H yêu cầu N và Tăng Thị H2 là chỉ được bán dâm cho khách tại quán chứ không được bán dâm khách ở nơi khác. Tăng Thị H2 và N đồng ý bán dâm cho khách ở tại quán đấm lưng, tẩm quất “Khánh Ngọc” của Nguyễn Thị Thu H.
Trưa ngày 31/7/2024, khi N đang ngồi ở bàn uống nước, còn Tăng Thị H2 ngồi trong phòng của mình thì Đồng Tuấn A, sinh năm: 1981, ở: thôn N, xã K, thị xã S cùng Đào Đình Q1, sinh năm: 1991, ở: thôn T, xã S, thị xã S đi vào quán. Sau khi vào quán thì Đồng Tuấn A trao đổi và hỏi mua dâm cùng N với giá 300.000 đồng. N đồng ý. Do đã chuẩn bị sẵn bao cao su trong người nên N đưa Đồng Tuấn A vào phòng ngủ cạnh cửa ra vào quán để quan hệ tình dục.
2
Sau khi vào phòng Đồng Tuấn A thì nói với N là muốn mua dâm cùng một lúc với cả N và H2. N đồng ý và nói với Tuấn A nếu mua dâm cùng một lúc với N và H2 thì giá là 1.000.000 đồng. Đồng Tuấn A đồng ý và lấy 1.000.000 đồng trong túi quần (gồm hai tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng) ra đưa cho N. N cầm tiền cất vào túi quần rồi đi ra gọi H2 vào cùng bán dâm cho Tuấn A. H2 lấy 01 (một) bao cao su ở trong phòng ngủ của H2 rồi đi vào phòng mà Tuấn A và N đang ở trong. Lúc này, N nói với H2 “Anh ấy muốn chén cả hai, anh ấy cho mỗi đứa 500.000 đồng, tao cầm tiền đây rồi, cứ cho anh ấy chén nhé”. H2 đồng ý cùng N bám dâm cho Đồng Tuấn A.
Sau đó Tuấn A cùng H2 và N tự cởi quần áo, rồi cả ba người nằm lên giường. N dùng miệng kích thích dương vật của Tuấn A, còn H2 dùng tay sờ vào người và dùng miệng hôn ngực của Tuấn A để kích thích. Khi dương vật của Tuấn A cương cứng thì H2 nói với Tuấn A là “chén nhé?”. Tuấn A đồng ý nên H2 đeo bao cao su vào dương vật của Tuấn A rồi nằm ngửa xuống giường; Tuấn A nằm lên người H2 và cho dương vật vào âm đạo của H2 để quan hệ tình dục. Khi Tuấn A và chị H2 quan hệ tình dục thì N ngồi bên cạnh cho Tuấn A dùng tay sờ ngực của N và N dùng tay xoa lưng Tuấn A.
Sau khi quan hệ tình dục với H2 khoảng 5 phút thì Tuấn A rút dương vật ra khỏi âm đạo của H2 để chuyển sang quan hệ tình dục với N. Lúc này, H2 tháo bao cao su Tuấn A đang đeo ra; còn N xé bao cao su đã chuẩn bị sẵn và đeo vào dương vật của Tuấn A. Sau đó, N nằm xuống giường để Tuấn A nằm lên người cho dương vật vào âm đạo của N để quan hệ tình dục. Tuấn A và N quan hệ tình dục được một lúc thì dương vật của Tuấn A bị mềm nên không quan hệ được nữa nên H2 bỏ bao cao su ra và dùng miệng để kích thích dương vật cho Tuấn A; Còn N đi ra khỏi phòng xuống bếp lấy 01 (một) chiếc bao cao su rồi quay lại vào phòng. Sau khi H2 dùng miệng kích thích thì dương vật của Tuấn A cương cứng trở lại nên N đeo bao cao su vào dương vật của Tuấn A rồi cả ba tiếp tục quan hệ tình dục với nhau. Hồi 12 giờ 30 phút ngày 31/07/2024, trong khi Đồng Tuấn A đang quan hệ tình dục với Nguyễn Thị N và Tăng Thị H2 thì lực lượng Công an S đi kiểm tra đã phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm:
- - Thu giữ tại phòng nơi Đồng Tuấn A, Nguyễn Thị N, Tăng Thị H2 thực hiện hành vi mua, bán dâm là: 03 (ba) bao cao su đã qua sử dụng; 03 (ba) vỏ bao cao su một mặt màu xanh một mặt màu trắng đã bị xé trên vỏ bao cao su ghi chữ nước ngoài; 01 (một) bao cao su đã bị xé vỏ chưa qua sử dụng, vỏ bao cao su có một mặt màu xanh một mặt màu trắng ghi chữ nước ngoài (đây là số bao cao su mà Tuấn A cùng N và H2 đã sử dụng để quan hệ tình dục)
- - Thu giữ của Tăng Thị H2: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu vàng, số Imei: 357329084132880, số I: 357329086138288, bên trong lắp sim số: 0961293214, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Đây là điện thoại của H2 không liên quan đến vụ án).
- - Thu giữ của Nguyễn Thị N: 1.000.000 đồng (một triệu đồng) gồm hai tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Đây là tiền anh Đồng Tuấn A trả cho N để mua dâm N và Tăng Thị H2.
3
- + 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, số Imei: 350091874618668, số I: 350091874703437, bên trong lắp sim số: 0868237188, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Đây là điện thoại của N không liên quan đến hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị N để điều tra về tội: “Môi giới mại dâm”. Đến ngày 13/9/2024, Nguyễn Thị Thu H đã ra đầu thú và khai nhận rõ hành vi: “Chứa mại dâm” của mình. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Thu H để điều tra về tội “Chứa mại dâm”.
Quá trình điều tra, đã xác định ngôi nhà số H đường Q, thôn Đ, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội là của anh Nguyễn Đức N1 cho Nguyễn Thị Thu H thuê. Tuy nhiên anh N1 không biết H thuê nhà của mình để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với anh N1.
Công an thị xã S cũng đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Thị N, Tăng Thị H2 về hành vi: Bán dâm. Và xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Đồng Tuấn A về hành vi: Mua dâm
Tại bản Cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thị Thu H về tội: Chứa mại dâm, quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự. Nguyễn Thị N về tội: Môi giới mại dâm, quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng theo khoản 1 Điều 327 của Bộ Luật hình sự; Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Thu H từ 12 đến 15tháng tù. Áp dụng theo khoản 1 Điều 328 của Bộ Luật hình sự; Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểmi, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị N từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng . Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ: 03 (ba) bao cao su đã qua sử dụng; 03 (ba) vỏ bao cao su một mặt màu xanh một mặt màu trắng đã bị xé trên vỏ bao cao su ghi chữ nước ngoài; 01 (một) bao cao su đã bị xé vỏ chưa qua sử dụng, vỏ bao cao su có một mặt màu xanh một mặt màu trắng ghi chữ nước ngoài; Tịch thu sung công 1.000.000 đồng là tiền mua bán dâm mà có. Trả lại cho Tăng Thị H2 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu vàng, số Imei: 357329084132880, số I: 357329086138288, bên trong lắp sim số: 0961293214, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Trả lại cho Nguyễn Thị N 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, số Imei: 350091874618668, số I: 350091874703437, bên trong lắp sim số: 0868237188, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Về án phí các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Thị N nhận thấy:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đợc đa ra thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên toà, thể hiện:
Nguyễn Thị Thu H, ký hợp đồng thuê ngôi nhà số H đường Q, thôn Đ, xã C, thị xã S, để mở quán kinh doanh, lấy tên là “Khánh Ngọc” hoạt động đấm lưng, tẩm quất. Để tăng doanh thu Nguyễn Thị Thu H đã bàn bạc thống nhất với N và Tăng Thị H2 bán dâm cho khách khi khách có nhu cầu mua dâm. Mỗi lần bán dâm cho khách thì sẽ thu của khách 300.000 đồng, số tiền này chia đôi Nguyễn Thị Thu H sẽ lấy một nửa. Trưa ngày 31/7/2024, Đồng Tuấn A, đến hỏi mua dâm cùng N với giá 300.000 đồng. Sau khi vào phòng Đồng Tuấn A thì nói với N là muốn mua dâm cùng một lúc với cả N và H. N đồng ý và nói với Tuấn A nếu mua dâm cùng một lúc với N và H thì giá là 1.000.000 đồng. Đồng Tuấn A đồng ý và lấy 1.000.000 đồng trong túi quần ra đưa cho N. N cầm tiền cất vào túi quần rồi đi ra gọi H vào cùng bán dâm cho Tuấn A. Khi cả ba đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị bắt, thu giữ tang vật của vụ án.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã khai nhận do hám lợi đã thống nhất, thỏa thuận đồng ý cho N và Tăng Thị H2 bán dâm cho khách tại quán do mình quản lý và ăn chia tiền bán dâm thu được của khách hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Chứa mại dâm được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị N đã làm trung gian dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm, đã đủ yếu tố cấu thành tội Môi giới mại dâm được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực pháp luật hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới chính sách phòng chống tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo có ý thức chấp hành tốt pháp luật. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như tại phiên tòa bị cáo H2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã ra đầu thú hiện bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng
5
tuổi đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị N được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo hiện đang nuôi mẹ liệt sỹ và có 02 con nhỏ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[3] Công an thị xã S cũng đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Thị N, Tăng Thị H2 về hành vi: Bán dâm. Và xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Đồng Tuấn A về hành vi: Mua dâm là đúng quy định của pháp luật.
[4] Về xử lý vật chứng: Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ: 03 (ba) bao cao su đã qua sử dụng; 03 (ba) vỏ bao cao su một mặt màu xanh một mặt màu trắng đã bị xé trên vỏ bao cao su ghi chữ nước ngoài; 01 (một) bao cao su đã bị xé vỏ chưa qua sử dụng, vỏ bao cao su có một mặt màu xanh một mặt màu trắng ghi chữ nước ngoài; Tịch thu sung công 1.000.000 đồng là tiền mua bán dâm mà có. Trả lại cho Tăng Thị H2 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu vàng, số Imei: 357329084132880, số I: 357329086138288, bên trong lắp sim số: 0961293214, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Trả lại cho Nguyễn Thị N 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, số Imei: 350091874618668, số I: 350091874703437, bên trong lắp sim số: 0868237188, điện thoại cũ đã qua sử dụng
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội: Chứa mại dâm. Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội: Môi giới mại dâm
Áp dụng khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 12 (mười hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 9(chín ) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho UBND xã C, thị xã S, TP Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của pháp luật về thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
6
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 03 (ba) bao cao su đã qua sử dụng; 03 (ba) vỏ bao cao su một mặt màu xanh một mặt màu trắng đã bị xé trên vỏ bao cao su ghi chữ nước ngoài; 01 (một) bao cao su đã bị xé vỏ chưa qua sử dụng, vỏ bao cao su có một mặt màu xanh một mặt màu trắng ghi chữ nước ngoài; Trả lại cho Tăng Thị H2 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu vàng, số Imei: 357329084132880, số I: 357329086138288, bên trong lắp sim số: 0961293214, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Trả lại cho Nguyễn Thị N 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, số Imei: 350091874618668, số I: 350091874703437, bên trong lắp sim số: 0868237188, điện thoại cũ đã qua sử dụng
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội).
Tịch thu sung công: 1.000.000 đồng (một triệu đồng)
(Theo Ủy nhiệm chi ngày 01/11/2024 giữa Công an thị xã S và Kho bạc nhà nước thị xã S, thành phố Hà Nội).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Thị N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Tăng Thị H2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lưu Ngọc Hưng |
7
8
Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự (chứa mại dâm và môi giới mại dâm)
- Số bản án: 124/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Chứa mại dâm và Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chứa mại dâm và môi giới mại dâm
