Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày: 09-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tư

Ông Nguyễn Viết Xứng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2024/TLST-HS ngày 31/10/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 22/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Bế Văn S, sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Phước; Nơi thường trú: Tổ A, ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Văn C (đã chết) và bà Nông Thị O, sinh năm 1975; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1990, có 01 con sinh năm 2024; Tiền sự: Không; Tiền án: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành án tại Trại giam A1, ngày 04/12/2021 đã chấp hành xong hình phạt và án phí. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
  2. Họ và tên: Trần Thái H, sinh năm 1990 tại tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện tại: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C1 (đã chết) và bà Hồ Hồng C2 (không rõ năm sinh); bị cáo có 03 em ruột, lớn nhất sinh năm 1993 và nhỏ nhất sinh năm 2006; sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Tuyết A, sinh năm 1985;

có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

  1. Họ và tên: Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1976 tại tỉnh Quảng Trị; nơi thường trú: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Trần Thị H1, sinh năm 1949 (đã chết); bị cáo có 07 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1973 và nhỏ nhất (không nhớ năm sinh); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 1996 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 14 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo chấp hành án tại Trại giam C4, Thành phố Hồ Chí Minh đến tháng 4/1996 chấp hành xong hình phạt. Năm 1998, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 42 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo chấp hành án tại Trại giam T8 đến tháng 08/2001 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Bế Văn S, Trần Thái H, Nguyễn Ngọc T1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 29/03/2024, Trần Thái H, sinh năm (Sn) 1990, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69AD - 007.26 đến ấp P, xã T, huyện Đ gặp Bế Văn S, SN 1995, mua 200.000 đồng ma túy đá. S đưa cho H 01 (một) gói nylon bên trong chứa ma túy đá rồi H điều khiển xe đi về nhà tại ấp P, xã T, huyện Đ. Khi đi đến khu vực thuộc ấp C, xã T, huyện Đ thì bị lực lượng Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã T tiến hành kiểm tra thì H bỏ 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng đang cầm trên tay xuống đường và bị phát hiện. H khai nhận gói nylon chứa tinh thể màu trắng trên là ma túy đá nên cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với H và niêm phong số ma túy trên để lập hồ sơ xử lý theo quy định pháp luật đồng thời tiến hành khám xét phòng trọ của H, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/03/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành khám xét nhà Bế Văn S tại ấp P, xã T, huyện Đ thu giữ nhiều ống đoạn ống nhựa và gói nylon chứa tinh thể màu trắng, chất dẻo màu đen. S khai nhận là ma túy đá mua về để phân ra bán lại kiếm lời và nhựa cây thuốc phiện để sử dụng. S khai nhận đã bán ma túy cho H 02 lần vào ngày 23/3/2024 và 29/3/2024, Cơ quan CSĐT đã niêm phong số ma túy trên để lập hồ sơ xử lý theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, H còn khai nhận khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/03/2024,

khi H đang ở nhà tại ấp P, xã T, huyện Đ thì Nguyễn Ngọc T1, SN 1976, đến nhà chơi và rủ H cùng mua ma túy về cùng sử dụng. T1 đưa cho H 200.000 đồng để mua ma túy và 100.000 đồng đổ xăng rồi H đến nhà S thuộc ấp P, xã T, huyện Đ mua 200.000 đồng ma túy đá. Sau đó, H đi về nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ) có sẵn trong nhà, đổ toàn bộ ma túy vào nỏ và cùng sử dụng với T1. Lúc sau, có Nguyễn Thị Tuyết A, SN 1985, (vợ của H) đi làm về phòng trọ rồi cùng sử dụng ma túy với T1 và H. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, khi hết ma túy thì T1 đi về.

Quá trình điều tra, Bế Văn S và Trần Thái H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên (bút lục 164 - 178, 187 - 188, 199 - 200, 204 - 208, 211 - 214, 226 - 233, 253, 255,). Nguyễn Ngọc T1 nhiều lần thay đổi lời khai, quanh co, khai báo không thành khẩn, T1 khai nhận tổ chức sử dụng ma túy cùng H và không có Nguyễn Thị Tuyết A tham gia. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản khám xét tại phòng trọ H (bút lục 86); bản tường trình, biên bản lời khai của Nguyễn Ngọc T1 (bút lục 183 - 184, 185 - 186, 202 - 203, 209 - 210, 218 - 219, 224 - 225, 229 - 230, 245, 252); bản tự khai và lời khai của Trần Thái H (bút lục 172 - 178, 187 - 188, 211 - 214, 229 - 230, 253); bản tự khai và lời khai của Nguyễn Thị Tuyết A (bút lục 189 - 192, 234, 240, 255); Biên bản đối chất của Trần Thái H và Nguyễn Thị Tuyết A (bút lục 235 - 238) đầy đủ căn cứ để khẳng định Nguyễn Ngọc T1 là người đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.

-Theo Kết luận giám định số 360/KL-KTHS ngày 05/4/2024, của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

Tinh thể màu trắng (ký hiệu M, M1, M2, M3, M4, M5) bên trong các gói nylon và hai đoạn ống nhựa màu xanh được niêm phong gửi giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng lần lượt là: M=0,4858 gam (Không phẩy bốn tám năm tám gam); M1=0,2225 gam (Không phẩy hai hai hai lăm gam); M2=0,6128 gam (Không phẩy sáu một hai tám gam); M3=0,0782 gam (Không phẩy không bảy tám hai gam); M4=0,1361 gam (Không phẩy một ba sáu một gam); M5=0,1353 gam (Không phẩy một ba năm ba gam).

Chất dẻo màu đen (ký hiệu M6-1, M7) có trong các gói nylon được niêm phong gửi giám định đều là ma túy; là Thuốc Phiện; có khối lượng lần lượt là: M6-1=1,6570 gam (Một phẩy sáu năm bảy không gam); M7=15,0864 gam (Mười lăm phẩy không tám sáu bốn gam).

Chất rắn màu hồng (ký hiệu M6-2) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là: M6-2=0,0120 gam (Không phẩy không một hai không gam).

Chất màu nâu đen (ký hiệu M8) bám dính trong ống thủy tinh uốn cong được

niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; không xác định khối lượng M8 do mẫu ở dạng vết.

Đối với chất rắn màu đen (ký hiệu M6-3, M6-4) có trong túi nylon và lọ thủy tinh được niêm phong gửi giám định có khối lượng M6-3=4,7196 gam và M6-4=70,4248 gam đều là xái thuốc phiện.

-Theo Kết luận giám định số 2758 ngày 22/5/2024, của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C5, kết luận: Mẫu M6-3 được niêm phong gửi giám định có tìm thấy các thành phần chính của thuốc phiện là morphine, C3. Khối lượng chất ma túy morphine trong 4,7196 gam của mẫu M6-3: 0,0223 gam; Mẫu M6-4 được niêm phong gửi giám định có tìm thấy các thành phần chính của thuốc phiện là morphine, C3. Khối lượng chất ma túy morphine trong 70,4248 gam của mẫu M6-4: 0,1690 gam; Hiện nay, Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh không có mẫu chuẩn định lượng Codeine. Do vậy, Phân viện không tiến hành giám định hàm lượng Codeine theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Tại bản Cáo trạng số: 132/CT-VKS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Bế Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm b, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Trần Thái H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Bế Văn S phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Thái H phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm b, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; các Điều 38, 50 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Bế Văn S từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; các Điều 38, 50 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thái H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51; các Điều 38, 50 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo

Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy đối với các chất ma túy và dụng cụ sử dụng chất ma túy đã thu giữ; Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng đã thu giữ của Bế Văn S; T2 trả lại cho bị cáo H xe mô tô và số tiền là 100.000 đồng;

Trong phần tranh luận, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước công bố bản luận tội, bị cáo không có tranh luận gì về phần tội danh mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của những người chứng kiến; kết luận giám định; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Bế Văn S, Trần Thái H, Nguyễn Ngọc T1 là những người nghiện ma túy.

Ngày 23/3/2024, Trần Ngọc T3 và Trần Thái H có hành vi cung cấp ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho Nguyễn Thị Tuyết A và cùng Tuyết A sử dụng ma túy tại ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, ngày 29/3/2024, Trần Thái H đến nhà Bế Văn S mua 01 gói Nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng (là chất ma túy loại Methamphetamine trọng lượng 0,4858 gam), mục đích để sử dụng, trên đường đi về thì bị phát hiện bắt quả tang

cùng tang vật. Hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Bế Văn S có hành vi bán ma túy cho Trần Thái H 02 lần vào các ngày 23/3/2024 và 29/3/2024. Qua khám xét thu giữ số số lượng 1,1969 gam Methamphetamine và 16,7434 gam thuốc phiện; Bị cáo thừa nhận số ma túy (1,1969 gam Methamphetamine) này bị cáo mua của một người không quen biết về để phân nhỏ ra bán kiếm lời; Còn số thuốc phiện (16,7434 gam thuốc phiện) bị cáo mua về để sử dụng nhưng sử dụng chưa hết. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái pháp chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 BLHS và tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS

Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước trong việc cất giữ, bảo quản và vận chuyển các chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất hạnh phúc gia đình và kéo theo các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh của cộng đồng dân cư;

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người hoàn toàn bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Các bị cáo biết rõ chất ma túy là chất mà Nhà nước cấm sản xuất, sử dụng, tàng trữ, mua bán vận chuyển...; các bị cáo cũng biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe của bản thân, của người sử dụng; ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác (như trộm cắp, cướp giật,...) nhưng các bị cáo vẫn thực hiện mục đích để thỏa mãn lối sống buông thả của bản thân.

Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” bị cáo Trần Thái H và Nguyễn Văn T4 là đồng phạm của nhau, tuy nhiên tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là những người nghiện ma túy, bị cáo T4 là người đưa tiền, cáo H là người đi mua ma túy và là người chuẩn bị dụng cụ sử dụng và địa điểm sử dụng tại nhà của bị cáo H để cùng sử dụng; ngoài ra cả hai bị cáo đề đồng ý cho Nguyễn Thị Tuyết A sử dụng ma túy cùng, do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau. Tuy nhiên do bị cáo T4 có nhân thân xấu nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn bị cáo H.

Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 29/3/2024 do Trần Thái H thực hiện; Các lời khai ban đầu tại Cơ quan điều tra bị cáo H đều khai là do Nguyễn Văn T4 đưa tiền để H mua về cùng sử dụng, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T4 đều cho rằng không đưa tiền cho H, không biết việc H mua ma túy vào ngày 29/3/2024; tại phiên tòa bị cáo H thay đổi lời khai và thừa nhận là bị cáo mua ma túy bằng tiền của mình, không liên quan đến T4, nên không có cơ sở xác định T4 là đồng phạm với H về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do vậy ngoài

hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” bị cáo Trần Thái H còn phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” và phải chịu trách nhiện hình sự về hai tội.

Đối với bị cáo Bế Văn S, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine là bị cáo mua về để chia nhỏ ra bán kiếm lời; còn số thuốc phiên là bị cáo mua về để sử dụng, quá trình điều tra không xác định được có đồng phạm khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hai tội “Mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy” ương ứng với hành vi của mình. Bản thân bị cáo đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” lẽ ra bị cáo phải nghiêm túc sửa chữa sai lầm của mình để sống tốt hơn nhưng bị cáo lại tiếp tục hành vi như đã nói ở trên, do vậy cũng cần phải xử bị cáo mức hình phạt nghiêm để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 có nhân thân xấu, đã từng bị 02 lần kết án về tội gây rối trật tự công cộng vào năm 1996 và 1998; bị cáo Bế Văn S có nhân than xấu, đã từng bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy vào năm 2020.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bế Văn S, Trần Thái H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, riêng bị cáo Bế Văn S có con nhỏ (mới sinh) đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt.

[4] Về quyết định hình phạt:

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đang bị tạm giam nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng pháp luật và về hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem xét khi quyết định hình phạt.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Ngọc T1 quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được T1 là đồng phạm với Trần Thái H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với T5, T6 là người bán ma tuý cho S, T7 là người mua ma túy của S. Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch nên không có cơ sở để xử lý trong vụ án do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bế Văn S, Nguyễn Ngọc T1, Trần Thái H, Nguyễn Thị Tuyết A đã được Công an huyện Đ chuyển hồ sơ đến Công an xã xử lý theo quy định nên Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng xử lý:

Đối với: Các phong bì thư mẫu hoàn trả có khối lượng gồm: M=0,3235 gam; M1=0,1512 gam; M2=0,4706 gam; M4=0,0774 gam; M5=0,0854 gam; M6-1=0,4730 gam; M7=11,2582 gam ghi số vụ 360/2024 ngày 01/04/2024 của Phòng Phòng K Công an tỉnh B đóng dấu niêm phong bên ngoài có chữ ký của thành phần tham gia; 01 (một) phong bì thư đựng 01 (một) ống thuỷ tinh một đầu uốn cong, đầu uốn cong bị bể còn lại sau giám định ghi số vụ 360/2024 ngày 01/04/2024 của Phòng Phòng K Công an tỉnh B đóng dấu niêm phong bên ngoài có chữ ký của thành phần tham gia; 01 (một) chai nhựa màu xanh, có nắp đậy màu xanh; 01 (một) ống nhựa đen; 01 (một) bật lửa tự chế có gắn một ống kim loại màu bạc; 01 (một) ống nhựa trắng trong suốt; 01 (một) cân tiểu ly điện tử; 01 áo khoác (áo gió) màu đen. Đây là các tang vật thu giữ trong vụ án và còn lại sau giám định, không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng theo quy định tại các điều 46, 47 BLHS và điểm a khoản 1 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy;

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Bế Văn S, qua điều tra xác định đây là tiền bị cáo bán ma túy cho bị cáo H mà có nên cần tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 69AD - 007.26, theo lời trình bày của bị cáo Trần Thái H, đây là xe của bố mẹ bị cáo (đã chết) để lại và số tiền 100.000 đồng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo H

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bế Văn S phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Thái H phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

Áp dụng b, khoản 2, Điều 251; điểm b, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, các Điều 38, 50, 55 của BLHS, xử phạt bị cáo Bế Văn S 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Bế Văn S phải chấp hành là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 55, 58 của BLHS, xử phạt bị cáo Trần Thái H 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Trần Thái H phải chấp hành là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 5, các Điều 17, 38, 50, 58; Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

  1. Về vật chứng: áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tuyên tịch thu tiêu hủy: Các phong bì thư mẫu hoàn trả có khối lượng gồm: M=0,3235 gam; M1=0,1512 gam; M2=0,4706 gam; M4=0,0774 gam; M5=0,0854 gam; M6-1=0,4730 gam; M7=11,2582 gam ghi số vụ 360/2024 ngày 01/04/2024 của Phòng Phòng K Công an tỉnh B đóng dấu niêm phong bên ngoài có chữ ký của thành phần tham gia; - 01 (một) phong bì thư đựng 01 (một) ống thuỷ tinh một đầu uốn cong, đầu uốn cong bị bể còn lại sau giám định ghi số vụ 360/2024 ngày 01/04/2024 của Phòng Phòng K Công an tỉnh B đóng dấu niêm phong bên ngoài có chữ ký của thành phần tham gia;- 01 (một) chai nhựa màu xanh, có nắp đậy màu xanh; 01 (một) ống nhựa đen; 01 (một) bật lửa tự chế có gắn một ống kim loại màu bạc; 01 (một) ống nhựa trắng trong suốt; 01 (một) cân tiểu ly điện tử; 01 áo khoác (áo gió) màu đen.

T2 tịch thu sung công quỹ số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Bế Văn S.

T2 trả cho bị cáo Trần Thái H 01 (một) xe mô tô biển số 69AD - 007.26 và số tiền 100.000 đồng;

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Bế Văn S, Trần Thái H và Nguyễn Ngọc T1 mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.
  2. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - THADS huyện Đồng Phú;
  • - CA huyện Đồng Phú;
  • - PV06-CA T. Bình Phước;
  • - TT LLTP- Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán, Tàng trữ, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố các bị cáo tội Mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger