|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 124/2024/DS-ST Ngày 26 tháng 9 năm 2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sanh
Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2024/QĐXXST-DS ngày 27/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 209/2024/QĐST-DS ngày 17/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Như Đ, sinh năm 1972; Địa chỉ: B N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Bùi Thế M; Địa chỉ: K H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Như Đ trình bày:
Năm 2014 tôi làm nhà mới nên có nhờ ông M đóng 7 cánh cửa và 01 bàn thờ bàn thờ bằng gỗ. Ngày 13/3/2024, tôi giao cho ông M 27 cây gỗ mít để đi xẻ ván; Ngày 15/3/2024, ông M gọi điện cho tôi để yêu cầu trả tiền xẻ ván và tiền xe chở về xưởng của ông M. Ngày 23/3/2024, tôi chuyển tiền tạm ứng cho ông M 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Ngày 05/4/2024, tôi có gọi điện hỏi thăm về số gỗ đã giao và tiến độ làm đến đâu rồi thì ông M1 nói đang chờ ván khô và nói thiếu gỗ nên tôi mua thêm 3 cây gỗ nữa giao cho ông M. Ngày 13/4/2024, chúng tôi phát hiện ông M có sự gian dối trong việc sử dụng gỗ nên đã chở gỗ đã giao về và yêu cầu ông M hoàn trả lại tiền tạm ứng cho tôi. Tôi đã gặp ông M để thỏa thuận nhưng ông M tránh né. Sau khi tính toán chi phí ông M bỏ ra thì tôi yêu cầu ông M phải hoàn trả lại cho tôi 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Bùi Văn M2 để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Bùi Thế M phải trả cho ông Nguyễn Như Đ số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Bùi Thế M đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.
[2] Về nội dung vụ án: Ngày 13/3/2024, ông Nguyễn Như Đ thỏa thuận giao cho ông M 27 cây gỗ mít để đóng 07 cánh cửa và 01 bàn thờ; Ngày 23/3/2024, ông Đ chuyển tiền tạm ứng cho ông M 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) với nội dung chuyển khoản “ck tạm ứng tiên anh M3 moc”. Quá trình thực hiện công việc, ông Đ phát hiện ông M không trung thực trong việc thông báo số lượng gỗ được xẻ nên ông Đ đã thu hồi toàn bộ số gỗ và yêu cầu ông M hoàn trả số tiền tạm ứng nhưng ông M cố tình trốn tránh. Do đó ông Đ khởi kiện ông M hoàn trả lại số tiền tạm ứng, sau khi trừ chi phí ông M bỏ ra, số tiền còn lại ông Đ ông yêu cầu là 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Ông Nguyễn Như Đ cung cấp hình ảnh chuyển khoản với nội dung chuyển khoản “ck tạm ứng tiên anh M3 moc” thể hiện ông Đ đã tạm ứng cho ông M số tiền 15.000.000 đồng. Ông M không thực hiện đúng công việc mà hai bên đã thỏa thuận và không hoàn trả lại số tiền đã tạm ứng là vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Mặc khác, quá trình giải quyết vụ án ông M đã được tống đạt hợp lệ nhưng không tham gia các phiên hòa giải và cũng không phản hồi ý kiến chứng tỏ ông M cố tình trốn tránh việc hoàn trả tiền cho ông Đ. HĐXX nhận định ông M đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với ông Đ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Đ cần được chấp nhận.
[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – ông Bùi Thế M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 10.000.000 đồng x 5% ~ 500.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 179, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 280 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Như Đ đối với ông Bùi Thế M.
Buộc ông Nguyễn Như Đ phải hoàn trả cho ông Bùi Thế M số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Án phí và chi phí tố tụng khác:
Án phí Dân sự sơ thẩm: 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng), ông Bùi Thế M phải chịu.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Như Đ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000375 ngày 04/6/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 124/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 124/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng dịch vụ
