Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:124/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-9-2024

V/v yêu cầu ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU

- Những người tiến hành tố tụng gồm có:

Thẩm phán: Ông Kiều Song T

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Mỹ Phượng và Nguyễn Thành Nhạn

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: ông Châu Hoa Đăng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:422/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc "tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1988;
  • Địa chỉ: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu;
  • - Bị đơn: Chị Trần Bích T1, sinh năm 1997;
  • Địa chỉ: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/7/2024 và trong quá trình xét xử nguyên đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Trần Bích Thủy C1 sống với nhau vào năm 2016, hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn;

Về con chung: Quá trình chung sống chị T2 và anh C có 02 người con chung là Nguyễn Thùy D, sinh ngày 20/3/2017 và Nguyễn Phúc T3, sinh ngày 27/8/2018, hiện anh đang trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu;

Ngoài ra anh không có ý kiến hay yêu cầu gì khác

Bị đơn chị Trần Bích T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của chị T1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trình bày quan điểm:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự: từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Đối với chị Trần Bích T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do là vi phạm quy định tại khoản 15,16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn C, về hôn nhân anh C được ly hôn với chị T1; Về con chung đề nghị giao các con chung cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng; Về tài sản do đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn C yêu cầu ly hôn với chị Trần Bích T1, hiện tại chị T1 cư trú trên địa bàn thị xã G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập chị Trần Bích T1 đến Tòa án để tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng chị T1 vẫn vắng mặt; anh C có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành hành xử vắng mặt anh C và chị T1 theo quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ vợ chồng: Theo giấy đăng ký kết hôn số 90, ngày 14/6/2016, của Ủy ban nhân dân xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu cấp thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn C và chị Trần Bích T1 là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh C yêu cầu được ly hôn với chị T1 để mọi người tạo dựng cuộc sống riêng.

Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên của anh C là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ theo lời trình bày của anh C thì mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh từ rất lâu, nguyên nhân không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh C và chị T1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không đạt được.

Mặc khác chị T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên hòa giải và tham dự phiên tòa nhưng chị T1 vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện chị T1 không có thiện chí để Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh C đối với chị T1.

[4] Về con chung: Anh C xác nhận anh với chị T1 có với nhau 02 người con chung tên Nguyễn Phúc T3, sinh ngày 27/8/2018 và Nguyễn Thùy D, sinh ngày 20/3/2017, hiện anh C đang nuôi dưỡng, khi ly hôn anh yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy anh C và chị T1 không có tranh chấp về việc nuôi con, anh C đang trực tiếp nuôi các con chung, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung, xét thấy cần thiết tiếp tục giao con chung cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, do anh C không có yêu cầu nên không xem xét. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp về việc cấp dưỡng nuôi con thì được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.

[5] Về tài sản chung: Do anh C khai nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn chị T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì về tài sản chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản thì được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.

[6] Về nợ chung: Do anh C khai nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn chị T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì về nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản thì được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.

[7] Về án phí: Anh Nguyễn Văn C phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 8, 9, 14, 53, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn C với chị Trần Bích T1. Anh Nguyễn Văn C được ly hôn với chị Trần Bích T1.

  2. Về con chung:

    Giao 02 người con: Nguyễn Phúc T3, sinh ngày 27/8/2018 và Nguyễn Thùy D, sinh ngày 20/3/2017 cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Trần Bích T1 có quyền và nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con:

    Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Trần Bích T1 cho đến khi anh Nguyễn Văn C có yêu cầu. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau này.

  4. Về tài sản chung và nợ chung:

    Dành quyền khởi kiện cho anh Nguyễn Văn C và chị Trần Bích T1 bằng một vụ án khác nếu anh, chị có yêu cầu.

  5. Về án phí:

    Anh Nguyễn Văn C chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà anh C đã dự nộp theo biên lai thu số 0009007, ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai. Anh C đã nộp đủ án phí.

  6. Quyền kháng cáo:

    Anh Nguyễn Văn C và chị Trần Bích T1 có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND thị xã Giá Rai;
  • - Chi cục THADS thị xã Giá Rai;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phong Thạnh A;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Kiều Song Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 124/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger