|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 124/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thuận
- Ông Trần Minh Thân
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường, Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Tú
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
TRẦN HỮU HUY H, tên gọi khác: không; sinh ngày 02 tháng 02 năm 1999, tại: thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và Nơi ở hiện nay: số A N, tổ E, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Quốc G (sinh năm: 1967) và bà Nguyễn Thị Thanh H (sinh năm 1968); Bị cáo là con thứ 02 (hai) trong gia đình có 02 (hai) anh em; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
- Ngày 26/3/2018, bị Công an phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Ngày 02/5/2018, bị Ủy ban nhân dân phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Ngày 16/10/2018, bị Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 (mười hai) tháng, theo Quyết định số 70/2018/QĐ-TA.
- Ngày 12/11/2019, bị Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 (mười hai) tháng, theo Quyết định số
110/2019/QĐ-TA.
- Ngày 09/6/2022 bị Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 (mười hai) tháng, theo Quyết định số 35/2022/QĐ-TA.
- Ngày 14/6/2024 bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), theo Quyết định số 212/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 12/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/4/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. (Có mặt tại phiên toà).
-
PHẠM ĐỨC T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 08 tháng 12 năm 1997, tại thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ D, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện nay: K C, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Đức T1 (sinh năm 1969) và bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1973); Bị cáo là con thứ 02 (hai) trong gia đình có 02 (hai) chị em; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không;
Tiền sự:
- Ngày 21/8/2023 bị Công an phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).
- Ngày 12/9/2023 bị Công an quận S, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Kinh doanh hàng hoá dịch vụ thuộc ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không có giấy phép kinh doanh theo quy định” và “Kinh doanh hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ trong trường hợp hàng hoá vi phạm có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng” bằng hình thức phạt tiền 20.500.000 đồng (Hai mươi triệu năm trăm ngàn đồng).
- Ngày 19/02/2024, bị Ủy ban nhân dân phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định số 74/QĐ-UBND về việc Cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng với thời hạn 12 (mười hai) tháng.
Nhân Thân:
- Ngày 14/6/2024 bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), theo Quyết định số 213/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 12/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/4/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. (Có mặt tại phiên toà).
- NGUYỄN THỊ T2 HỒNG, tên gọi khác: không; sinh ngày 19 tháng 02
năm 1994, tại thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ I, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện nay: Tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn H1 (sinh năm: 1967) và bà Phạm Thị H2 (sinh năm 1966); Bị cáo là con thứ 02 (hai) trong gia đình có 04 (bốn) anh chị em; Có chồng là Lê Ngọc H3 (sinh năm 1993); Có 04 (bốn) con (con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2020). Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 14/6/2024 bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), theo Quyết định số 214/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 12/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/4/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. (Có mặt tại phiên toà).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Quốc G, sinh năm 1967; Địa chỉ: tổ E phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)
- Bà Hồ Thị Thanh H4, sinh năm 1998; Địa chỉ: tổ C, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/4/2024, Trần Hữu H5 H7 thông qua mạng xã hội T3 liên lạc một người (không rõ nhân thân lai lịch) mua một gói ma tuý đá với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) cả hai thống nhất giao dịch. H7 đến một tiệm điện thoại tại quận S, thành phố Đà Nẵng (không nhớ địa chỉ, tên tiệm) chuyển tiền vào tài khoản (không nhớ số, tên tài khoản) người bán ma tuý đưa cho H7. Khoảng hai ngày sau có người liên lạc với H7 đã để ma tuý đá trước nhà H7 tại số A N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, sau khi nhận ma tuý đá, H7 dùng tay chia ma tuý thành các gói nhỏ cất giấu trong phòng ngủ của H7 tại nhà số A N, thành phố Đà Nẵng. Sáng ngày 14/02/2024, H7 cất giấu hai gói ma tuý đá trong phòng ngủ và hai gói ma tuý cất giấu lần lượt vào trong trụ điện và gốc cây phía trước nhà nhằm bán cho người khác kiếm tiền lời. Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 12/4/2024, Phạm Đức T trong lúc đang ngồi chơi cùng Nguyễn Thị Thu H6 tại địa chỉ K C, thành phố Đà Nẵng thì nảy sinh ý định sử dụng ma tuý nên rủ H6 cùng tham gia góp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) cùng với T để mua ma tuý về sử dụng thì H6 đồng ý. T gọi điện cho Trần Hữu H5 H7 qua mạng xã hội Zalo của H7 tên “Hình sự nằm vùng” hỏi mua 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) ma tuý đá thì Hòa đồng Ý và yêu cầu T chuyển
khoản tiền mua ma tuý vào số tài khoản 05364985901 mang tên “Trần Hữu H5 H7” mở tại ngân hàng T4. Sau khi nhận được tiền, H7 sử dụng tài khoản Z gọi lại nói T đến trụ điện trước nhà của H7 tại A N, thành phố Đà Nẵng để lấy ma tuý H7 đã để sẵn từ trước. Lúc này Nguyễn Thị Thu H6 giao xe môtô hiệu Honda Blade biển kiểm soát 43D1-706.70 cho Phạm Đức T điều khiển rồi cả hai cùng đi đến địa điểm trên để lấy ma tuý. Khi đến nơi, T dừng xe bên cạnh trụ điện trước nhà số A N, thành phố Đà Nẵng rồi với tay vào trụ điện lấy 01 (một) mảnh giấy trắng bên trong có 01 (một) gói nilong có chứa ma tuý rồi cầm trên tay và điều khiển xe chở Nguyễn Thị Thu H6 rời đi. Khi T và H6 đi đến khu vực trước nhà K đường H, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng thì bị lực lượng phòng chống ma tuý và tội phạm - Đồn biên phòng P kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang đồng thời thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 (một) tờ giấy trắng bên trong có 01 (một) gói nilong, kích thước 02 x 02 cm; Bên trong gói nilong có chứa tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu T1). Ngoài ra còn tạm giữa của Phạm Đức T: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 43D1-706.70, số máy: JA36E05999G7; 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu trắng, số Imeil: 354410066262838.
Căn cứ vào lời khai ban đầu của T và H6, tài liệu tin nhắn Zalo từ điện thoại của T, bản ảnh nhận dạng của T và H6, Đồn trưởng Đồn biên phòng P ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Hữu H5 Hoà đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H7 tại nhà số A N, thành phố Đà Nẵng do ông Trần Quốc G là cha ruột của Trần Hữu Huy H7 làm chủ sở hữu, tiếp tục phát hiện và thu giữ tại vị trí dưới gầm tủ đặt sát đất ở góc trong bên trái phòng ngủ của H7 trên tầng 03 của nhà số A N, thành phố Đà Nẵng có 02 (hai) gói nilong kích thước 02 x 02 cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu H1) và tại vị trí gốc cây bên trái trước của nhà số A N, thành phố Đà Nẵng có 01 (một) gói nilong kích thước 1,8 x 1,9 cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu H2). Ngoài ra còn thu giữ của Trần Hữu Huy H7: 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu ghi, số Imei 1: 868202054683001/78; Imei2: 868202054683019/78 bên trong có sim số 0934936613 và sim số [...]. Qua kiểm tra điện thoại của H7 có nội dung tin nhắn Zalo thể hiện việc trao đổi mua bán ma tuý giữa H7 và T, ngoài ra không phát hiện gì thêm.
Ngoài ra, Trần Hữu Huy H7 và Phạm Đức T khai nhận vào ngày 05/4/2024, Phạm Đức T còn mua của Trần Hữu H5 Hoà 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) ma tuý đá, số ma tuý này Phạm Đức T đã sử dụng hết nên không thu giữ và xác định được khối lượng chất ma tuý.
Tính đến thời điểm H7, T, H6 bị bắt vào ngày 12/4/2024, Trần Hữu Huy H7 và Phạm Đức T đã thực hiện 02 (hai) lần giao dịch mua bán ma tuý cho nhau, mỗi lần với giá 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Trong đó một lần vào
ngày 12/4/2024 và một lần vào trước đó khoảng ngày 05/4/2024. Riêng Nguyễn Thị Thu H6, ngoài lần cùng góp tiền với Phạm Đức T mua ma tuý của Trần Hữu Huy H7 và bị bắt quả tang, trước đó giữa H7 – H6 chưa có lần nào giao dịch mua bán ma tuý.
* Vật chứng thu giữ:
- 03 (ba) bì thư được niêm phong ký hiệu “T1”, “H1”, “H2”, bên trong bì thư chứa các tinh thể màu trắng kèm Bản kết luận giám định số 296/GĐ-MT ngày 18/4/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Blade màu đỏ trắng biển kiểm soát 43D1-706.70, số máy: JA36E05999G7, số khung: RLHJA365XGY800094 do bà Hồ Thị Thanh H4 đứng tên chủ sở hữu. Qua quá trình điều tra và làm việc bà H4 là em dâu của H6 và không biết việc H6 mượn xe của bà H4 vào việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định Xử lý vật chứng số: 1065 ngày 08 tháng 8 năm 2024 trả lại xe mô tô nói trên cho bà Hồ Thị Thanh H4 theo quy định.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng Imei: 354410066262838 gắn sim số: 0896900143 của Phạm Đức T.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi màu ghi có Imei 1: 868202054683001/78; Imei 2: 868202054683019/78 có gắn sim 1: 0934936613, có gắn sim 2: 0795695966 của Trần Hữu Huy H7.
* Tại Bản kết luận giám định số: 296/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận:
- Chất tinh thể rắn màu trắng đựng trong bì thư niêm phong ký hiệu “T1”. “H1”, “H2” gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine; khối lượng tinh thể trong bì thư niêm phong ký hiệu “T1”, “H1”, “H2” lần lượt là 0,113 gam, 0,304 gam, 0,173 gam.
- Hoàn lại đối tượng giám định mẫu vật còn lại sau khi trích làm giám định và toàn bộ vỏ bao gói được hoàn lại kèm theo “Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định”.
Tại bản Cáo trạng số: 105/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố bị cáo Trần Hữu Huy H7 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Đức T và Nguyễn Thị Thu H6 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Trần Hữu Huy H7 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Phạm Đức T, Nguyễn Thị Thu H6 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hữu Huy H7 từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đức T từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu H8 từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: đại diện Viện kiểm sát căn cứ các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên:
Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 03 bì thư niêm phong ký hiệu “T1”, “H1”, “H2” của Phòng K Công an thành phố Đ, bên trong bì niêm phong ký hiệu “T1” chứa 0,113 gam; bên trong bì niêm phong ký hiệu “H1” chứa 0,304 gam; bên trong bì niêm phong ký hiệu “H2” chứa 0,173 gam hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao kèm theo các Kết luận giám định số 296/GĐ-MT ngày 18/4/2024, có đóng dấu đỏ giáp lai của Phòng K Công an thành phố Đ.
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) sim số 0896900143 của Phạm Đức T, 01 (một) sim số 0934936613 và 01 (một) sim số 0795695966 của Trần Hữu Huy H7.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng, số IMEI: 354410066261838 của Phạm Đức T, 01 (một) điện thoại di động màu ghi hiệu Redmi, số IMEI 1: 868202054683001/78, IMEI 2: 868202054683019/78 của Trần Hữu Huy H7.
Phần tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, tội danh và mức hình phạt cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các bị cáo H7, T và H8 rất ân hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng P thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng thành phố Đ; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trần Hữu Huy H7, Phạm Đức T, Nguyễn Thị Thu H6 đã thống nhất khai nhận:
Ngày 12/4/2024, Trần Hữu Huy H7 đã có hành vi bán 0,113 gam ma túy loại methamphetamine cho Phạm Đức T và Nguyễn Thị Thu H6. T và H6 khai nhận cùng nhau góp tiền mua ma túy rồi cất giấu để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Lực lượng phòng chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng P kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang tại trước số nhà K đường H, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Qua khai nhận của T và H6, Lực lượng phòng chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng P tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của Trần Hữu Huy H7 tại địa chỉ A đường N, thành phố Đà Nẵng và thu giữ thêm 0,477 gam ma túy loại methamphetamine mà H7 cất giấu nhằm mục đích để bán cho khách có nhu cầu. Ngoài ra, Trần Hữu Huy H7 và Phạm Đức T khai nhận vào ngày 05/4/2024, Phạm Đức T còn mua của Trần Hữu H5 Hoà 300.000 đồng ma tuý đá, số ma tuý này Phạm Đức T đã sử dụng hết nên không thu giữ và xác định được khối lượng chất ma tuý.
Vậy, tính đến thời điểm H7, T, H6 bị bắt vào ngày 12/4/2024, H7 và T đã thực hiện 02 (hai) lần giao dịch mua, bán ma tuý, mỗi lần với giá 300.000 đồng vào các ngày 12/4/2024 và 05/4/2024. Đối với H6 thì ngoài lần giao dịch mua, bán ma túy bị bắt quả tang ngày 12/4/2024, trước đó H7 và H6 chưa có lần nào giao dịch mua, bán ma túy.
Lời khai của các bị cáo Trần Hữu Huy H7, Phạm Đức T, Nguyễn Thị Thu H6 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét khẩn cấp; lời khai của người làm chứng; vật chứng thu giữ; kết luận giám định...Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trần Hữu Huy H7 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”; hành vi của các bị cáo Phạm Đức T và Nguyễn Thị Thu H6 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố các bị cáo với tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm từ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, ma túy là một trong những vấn nạn của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Do tác hại quá lớn của ma túy nên Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác
đấu tranh phòng, chống ma túy cũng như quyết tâm loại trừ các tệ nạn về ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Trong vụ án này, các bị cáo Trần Hữu Huy H7, Phạm Đức T, Nguyễn Thị Thu H6 là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài và muốn có ma túy để sử dụng nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính tại địa phương, gây nguy hại đến sức khỏe con người, là nguồn gốc lây lan tệ nạn nghiện ma túy và các căn bệnh xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Trong vụ án này, ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo H7 là độc lập và nghiêm trọng, bị truy tố ở khung hình phạt cao hơn các bị cáo T và H6. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà các bị cáo T và H6 cùng thực hiện mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ với nhau, việc bị cáo T rủ rê bị cáo H6 thực hiện hành vi phạm tội mang tính tự phát và vai trò của các bị cáo đều là người thực hành. Tuy nhiên, bị cáo T là người trước tiên nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng; rủ rê bị cáo H6 cùng tham gia; trực tiếp thực hiện việc liên hệ để mua ma túy từ H7, sau đó dùng xe máy mà H6 cung cấp để chở H6 đi đến địa điểm hẹn trước lấy ma túy mang về; ngoài ra bị cáo T trước lần bị bắt quả tang ngày 12/4/2024 còn đã từng mua ma túy của H7 về sử dụng vào ngày 05/4/2024. Do đó, mức hình phạt bị cáo T phải cao hơn bị cáo H6. Bị cáo Hồng giữ vai trò đồng phạm, giúp sức cho T thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cụ thể, bị cáo H6 sau khi được T rủ rê đã đồng ý cùng tham gia vào việc góp tiền mua ma túy, là người cung cấp phương tiện di chuyển và cùng với T đến điểm hẹn lấy ma túy mang về nên có thể xác định H6 giữ vai trò thứ yếu và được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn so với bị cáo T.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo H7, T và H6 đều đã thực sự thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi của mình. Bị cáo H6 có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đang nuôi 04 con nhỏ dưới 18 tuổi (con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2020); bị cáo T từng hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ tại Trung đoàn 275 thuộc Sư đoàn C và trong quá trình điều tra đã tích cực hợp tác với Cơ quan có trách nhiệm trong việc giải quyết vụ án và phát hiện ra người phạm tội nên các bị cáo H7, T và H6 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
được quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo H6 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo Trần Hữu H5 H7 là người có nhân thân xấu đã từng nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn và đã 03 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiệm bắt buộc; bị cáo Phạm Đức T có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, “Kinh doanh hàng hoá dịch vụ thuộc ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không có giấy phép kinh doanh theo quy định” và “Kinh doanh hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ trong trường hợp hàng hoá vi phạm có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng”; Bị cáo Nguyễn Thị Thu H6 ngoài lần phạm tội này thì chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có tương lai rộng mở phía trước nhưng các bị cáo không lấy đó làm động lực để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chăm chỉ lao động, làm ăn lương thiện để đóng góp phát triển xã hội mà chọn con đường mua bán, nghiện hút ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội.
Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy tiếp tục diễn biến phức tạp, gây tác động rất xấu đến đời sống xã hội. Do đó, cần phải xét xử nghiêm, áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có cơ hội cai nghiện, cải tạo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Hữu Huy H7 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), khoản 2 và 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, xét thấy:
- Đối với toàn bộ số mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 03 bì thư niêm phong ký hiệu “T1”, “H1”, “H2” của Phòng K Công an thành phố Đ, bên trong bì niêm phong ký hiệu “T1” chứa 0,113 gam; bên trong bì niêm phong ký hiệu “H1” chứa 0,304 gam; bên trong bì niêm phong ký hiệu “H2” chứa 0,173 gam hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao kèm theo các Kết luận giám định số 296/GĐ-MT ngày 18/4/2024, có đóng dấu đỏ giáp lai của Phòng K Công an thành phố Đ. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành và có liên quan đến vụ án đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy;
- Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng, số IMEI: 354410066261838 của Phạm Đức T; 01 (một) điện thoại di động màu ghi hiệu Redmi, số IMEI 1: 868202054683001/78, IMEI 2: 868202054683019/78 của Trần Hữu Huy H7; các thiết bị trên được các bị cáo dùng để liên lạc mua, bán
ma túy; xét thấy đây là những công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội và còn giá trị sử dụng nên cần tiến hành tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) sim số 0896900143 của Phạm Đức T, 01 (một) sim số 0934936613 và 01 (một) sim số 0795695966 của Trần Hữu Huy H7 là những số điện thoại dùng vào việc liên lạc bán ma túy do không còn giá trị sử dụng nên cần tiến hành tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại xe Blade màu đỏ trắng gắn biển kiểm soát 43D1-706.60, số máy: JA36E05999G7, số khung: RLHJA365XGY800094 do bà Hồ Thị Thanh H4 đứng tên chủ sở hữu. Qua quá trình làm việc và xác minh, bà H4 là em dâu của H6 và không biết việc H6 mượn xe bà H4 để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định Xử lý vật chứng số 1065 ngày 08 tháng 8 năm 2024 trả lại xe mô tô nói trên cho bà Hồ Thị Thanh H4 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Vấn đề khác: Về nguồn gốc ma túy, Trần Hữu H5 H7 khai mua của một người trên phần mềm ứng dụng Telegram không rõ nhân thân, lai lịch và không biết địa chỉ ở đâu. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục xác minh và xử lý sau là phù hợp.
Qua thử test nước tiểu đối với các đối tượng Trần Hữu Huy H7, Phạm Đức T, Nguyễn Thị Thu H6 đều dương tính với chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những các đối tượng này về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Đối với bà Hồ Thị Thanh H4, qua quá trình làm việc và điều tra, bà H4 không biết việc H6 mượn xe của bà H4 để thực hiện hành vi phạm vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không truy cứu đối với bà Hồ Thị Thanh H4 là đúng pháp luật.
Đối với ông Trần Quốc G là chủ nhà số A đường N, thành phố Đà Nẵng, là cha ruột của Trần Hữu Huy H7; ông G không biết việc H7 sử dụng nhà số A đường N, thành phố Đà Nẵng làm nơi cất giấu và mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với lần mua, bán ma túy giữa T và H7 vào ngày 05/4/2024, mặc dù H7 và T đều khai nhận về số lần, số tiền, phương thức giao dịch, chủng loại ma túy là giống nhau. Tuy nhiên, số ma túy T mua của H7 vào ngày 05/4/2024, T đã sử dụng hết nên Phòng K Công an thành phố Đ không có mẫu để giám định và kết
luận được khối lượng ma túy T tàng trữ để sử dụng vào ngày 05/4/2024 là bao nhiêu. Mặt khác, Trần Hữu H5 H7 không sử dụng dụng cụ “Cân” để phân chia chính xác số lượng ma túy cho vào các gói nhỏ mà dùng tay lấy ma túy cho vào từng gói một cách cảm tính, nên không có đủ cơ sở để xác định khối lượng ma túy mua ngày 05/4/2024 và khối lượng ma túy mua ngày 12/4/2024 của Phạm Đức T có tương đương nhau hay không mặc dù cùng giá tiền là 300.000 đồng. Vì vậy, không đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của Phạm Đức T vào ngày 05/4/2024 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” làm căn cứ định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: bị cáo Trần Hữu Huy H7 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Phạm Đức T và Nguyễn Thị Thu H6 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- 1.1 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Trần Hữu H5 H7 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 12/4/2024).
- 1.2 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Phạm Đức T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 12/4/2024).
- 1.3 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Thu H6 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 12/4/2024).
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 và Điều 35 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền: Bị cáo Trần Hữu H5 Hoà 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), khoản 2 và 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên:
Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 03 bì thư niêm phong ký hiệu “T1”, “H1”, “H2” của Phòng K Công an thành phố Đ, bên trong bì niêm phong ký hiệu “T1” chứa 0,113 gam; bên trong bì niêm phong ký hiệu “H1” chứa 0,304 gam; bên trong bì niêm phong ký hiệu “H2” chứa 0,173 gam hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao kèm theo các Kết luận giám định số 296/GĐ-MT ngày 18/4/2024, có đóng dấu đỏ giáp lai của Phòng K Công an thành phố Đ.
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) sim số 0896900143 của Phạm Đức T, 01 (một)
sim số 0934936613 và 01 (một) sim số 0795695966 của Trần Hữu Huy H7.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng, số IMEI: 354410066261838 của Phạm Đức T, 01 (một) điện thoại di động màu ghi hiệu Redmi, số IMEI 1 : 868202054683001/78, IMEI 2: 868202054683019/78 của Trần Hữu Huy H7.
(Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T và Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê).
- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo Trần Hữu Huy H7, Phạm Đức T và Phạm Thị Thu H8 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Các bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/9/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Dũng |
Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự
- Số bản án: 124/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hữu Huy Hòa và đồng bọn "Mua bán trái phép chất ma túy"
