|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 134 /2024/HSST Ngày: 25/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Giao và ông Trịnh Xuân Nguyên
Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Lê Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/HSST ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134 /2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn N, giới tính: Nam; sinh ngày 03/02/1971 tại Hải Dương; Nơi đăng kí HKTT: Xóm A, thôn A, xã C, huyện N, Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 2/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn H, con bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị V, chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 1990 bị TAND huyện Nam Thanh, H xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản riêng công dân; năm 1991 bị TAND huyện Chí Linh, H xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 07/3/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
-
Nguyễn Thị V, giới tính: Nữ; sinh ngày 30/01/1970 tại Bắc Giang; Nơi cư trú: Tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức P (đã chết), con bà Nguyễn Thị L; Có chồng là Nguyễn Văn N, chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 08/3/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
-
Nguyễn Duy L1; giới tính: Nam; sinh ngày 27/02/1980 tại Hoà Bình; Nơi cư trú: Tổ A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Duy B, con bà Nguyễn Thị M; Chưa có vợ, con.
Có 01 tiền án: ngày 14/02/2023 bị TAND thành phố Hoà Bình xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 1996 bị TAND tỉnh Hoà Bình xử phạt 2 năm tù về tội trộm cắp; năm 1999 bị TAND tỉnh Hoà Bình xử phạt 6 năm tù về tội trộm cắp.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 07/3/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Đức V1; sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07/3/2024, Nguyễn Văn N đi bộ từ nhà ra Cơ sở cai nghiện số 1 tỉnh Hoà Bình để uống methadone, khi N đến gần cổng cơ sở cai nghiện thì gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ở lề đường. Do có nhu cầu mua ma tuý sử dụng cho bản thân và để bán kiếm lời nên N đi đến chỗ người này hỏi mua ma tuý. Tại đây, N mua được của người đàn ông này 600.000 đồng, người đó đưa cho N 01 túi nilon bên trong có 06 gói giấy nhỏ và 6 viên ma tuý hồng phiến. Có được ma tuý, N cất vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà. Khi về đến nhà tại số E, tổ H, phường T, thành phố H, N lấy 06 gói ma tuý ra cất giấu ở nắp chai nhựa tại cửa sổ phòng ngủ của vợ chồng N; 6 viên hồng phiến còn lại, N đem sang ngôi nhà thứ hai của vợ chồng N cách nhà số E trên khoảng 100 mét, cất giấu vào 01 lọ thuỷ tinh và để trên cửa sổ phòng ngủ, việc này N không nói cho ai biết, sau đó N đi ra vườn trồng rau.
Việc N cất giấu ma tuý ở nắp nhựa tại cửa sổ phòng ngủ của vợ chồng N tại số nhà E ở trên thì Nguyễn Thị V là vợ N đã nhìn thấy.
Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, có Nguyễn Duy L1 đi xe máy điện đến nhà của V hỏi mua ma tuý. Đến nơi, L1 gặp V tại quán nước trước cửa nhà và hỏi V bán cho 100.000 đồng tiền ma tuý. Do đã nhìn thấy chồng là Nguyễn Văn N cất giấu ma tuý nên V nảy sinh ý định lấy ma tuý của N để bán cho L1 lấy tiền chi tiêu. V bảo L1 đưa 100.000 đồng rồi vào chỗ N cất giấu ma tuý trong phòng ngủ lấy 01 gói ma tuý ra ngoài cửa đưa cho L1. Sau khi mua được ma tuý, L1 cất giấu gói ma tuý vào túi áo khoác bên trái đang mặc và điều khiển xe đi về. Khi L1 đi đến khu vực tổ A, phường T, thành phố H thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
Sáng ngày 07/3/2024, Nguyễn Đức V1 đi xe khách từ nhà lên thành phố H mục đích tìm mua ma tuý. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, V2 đi xe buýt vào ngã ba chân C thuộc tổ H, phường T để hỏi mua ma tuý. Khi đến chân C1, V1 xuống xe và đi bộ về hướng đi B và vào nhà của N hỏi mua ma tuý. Nâu đã đồng ý bán cho V1 01 gói ma tuý với số tiền 100.000 đồng. Sau khi giao dịch mua bán ma tuý với V1 xong thì N đi vào nhà còn V1 đi về. Khi V1 đi được một đoạn đường thì bị cơ quan công an kiểm tra, bắt giữ đồng tời bắt giữ đối với Nguyễn Văn N.
Khám xét khẩn cấp đối với 02 ngôi nhà của vợ chồng Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị V đã thu giữ 04 gói giấy có chứa chất bột dạng cục màu trắng; 01 lọ thuỷ tinh có nắp nhựa bên trong có 01 gói nilon màu trắng chứa 01 túi nilon màu trắng viền đỏ, bên trong cùng có 06 viên nén màu hồng.
Bản kết luận số 142/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: “chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong thu giữ của Nguyễn Duy L1 gửi giám định có khối lượng 0,01g, là ma túy, loại heroine”.
Bản kết luận số 143/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: “chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong ... tạm giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn N và Nguyễn Đức V1 gửi giám định có khối lượng 0,02g, là ma túy, loại heroine".
Bản kết luận số 144/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: “- chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì ghi số 01 gửi giám định có khối lượng 0,02g, là ma túy, loại heroine.
- chất bột dạng cục màu trắng kí hiệu G1, G2, G3 trong phong bì ghi số 03 gửi giám định có tổng khối lượng 0,06g, là ma túy, loại heroine.
- 06 viên viên nén màu hồng trong hộp ghi số 06 gửi giám định có tổng khối lượng 0,59g, là ma túy, loại methamphetamine”.
Cáo trạng số 50/CT-VKSHB-P1 ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị V về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Duy L1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm a khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1, khoản 5 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Nguyễn Văn N từ 27 đến 30 tháng tù, xử phạt Nguyễn Thị V từ 24 đến 27 tháng tù cùng về tội Mua bán trái phép chất ma túy, phạt bổ sung Nâu từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng, phạt bổ sung V từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng; áp dụng điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Nguyễn Duy L1 từ 12 đến 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định; tịch thu tiêu huỷ 2 chiếc cân tiểu ly; trả lại cho bị cáo N 01 chiếc điện thoại; trả lại cho bị cáo V 01 chiếc điện thoại và 01 chiếc căn cước công dân; tịch thu 100.000 đồng thu giữ của bị cáo N, truy thu 100.000 đồng của bị cáo V để sung quỹ nhà nước; số tiền 355.800.000 đồng thu giữ của bị cáo N và V, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết; chiếc xe máy điện bị cáo L1 sử dụng vào việc đi mua ma tuý, cơ quan điều tra đã tách ra để xác minh giải quyết do đó không giải quyết trong vụ án này.
Các Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện:
Tại phiên toà, các Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các Bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, được làm rõ tại phiên toà do đó có căn cứ xác định: Ngày 07/3/2024, Nguyễn Văn N có hành vi mua, bán trái phép và nhằm để bán trái phép 0,7g ma túy cho Nguyễn Đức V1 và các đối tượng nghiện; Nguyễn Thị V có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Duy L1.
Các Bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, tàng trữ chất ma tuý để bán, nhằm bán lại cho người khác hoặc để sử dụng cho bản thân bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật và vì mục đích thu lời bất chính, nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Hành vi của của bị cáo đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền quản lý về ma túy của nhà nước, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị V thỏa mãn dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Duy L1 thoả mãn dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.
-
Về nhân thân người phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
Các Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS, được áp dụng khi lượng hình.
Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần có hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Trong vụ án này, bị cáo N là người trực tiếp mua ma tuý về cất giấu nhằm mục đích bán, đã trực tiếp bán cho Nguyễn Đức V1 01 lần do đó phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác; bị cáo V mặc dù không có sự bàn bạc với N tuy nhiên khi L1 hỏi mua ma tuý đã tự ý lấy ma tuý mà N đã cất giấu để bán cho L1 01 lần do đó cũng cần có mức hình phạt thoả đáng, thấp hơn bị cáo N.
Các bị cáo N, V bán ma tuý thu lời bất chính, có điều kiện về kinh tế do đó cần phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo này.
-
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của các bị cáo và của Nguyễn Đức V1 còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc điện thoại Samsung thu của bị cáo V, chiếc điện thoại hiệu Masstel thu giữ của bị cáo N là phương tiện liên lạc cá nhân, không xác định được liên quan đến tội phạm do đó cần trả cho chủ sở hữu.
01 chiếc căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị V là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo nên cần trả lại.
Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo N là tiền bị cáo thu được do bán ma tuý cho Nguyễn Đức V1 nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Số tiền 100.000 đồng bị cáo V bán ma tuý cho bị cáo L1 là tiền thu lời bất chính cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Số tiền 355.800.000 đồng thu giữ của bị cáo N và V, không xác định được có liên quan đến tội phạm, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Toà không xem xét giải quyết.
02 chiếc cân tiểu ly thu giữ tại bàn bán nước của bị cáo V, không xác định được chủ sở hữu, không còn giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe máy điện bị cáo L1 sử dụng vào việc đi mua ma tuý chưa xác định được chủ sở hữu, cơ quan điều tra đã tách ra để xác minh giải quyết khi có đủ căn cứ do đó Toà không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Đối với Nguyễn Đức V1 là người mua ma tuý của bị cáo N để sử dụng tuy nhiên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính do đó Toà không đề cập giải quyết.
Đối với người đàn ông, N khai bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực Trung tâm cai nghiện, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có căn cứ xác định nên không có căn cứ giải quyết trong vụ án này.
-
Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ khoản 1, khoản 5 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
-
Tuyên bố: Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
-
Xử phạt: - Nguyễn Văn N 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
Phạt bổ sung Nguyễn Văn N 10.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị V 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024.
Phạt bổ sung Nguyễn Thị V 5.000.000 đồng.
-
* Căn cứ khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
-
Tuyên bố: Nguyễn Duy L1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
-
Xử phạt: Nguyễn Duy L1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
-
Xử lý vật chứng: áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- - 0,005 gam mẫu ma tuý, loại heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định.
- - 0,01 gam mẫu ma tuý, loại heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định.
- - 04 mẫu ma tuý (phong bì 01: 0,01g; phong bì 03: G1: 0,01g; G2: 0,01g; G3: 0,01g), loại loại heroine; 01 mẫu ma tuý (hộp 06: 0,31g), loại methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định.
- - 02 chiếc cân tiểu ly thu giữ tại bàn bán nước của Nguyễn Thị V.
* Tịch thu của Nguyễn Văn N 100.000 đồng đựng bên trong phong bì niêm phong; truy thu của Nguyễn Thị V 100.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
* Trả lại cho Nguyễn Thị V 01 chiếc điện thoại hiệu S (bên trong có 01 thẻ sim) và 01 chiếc căn cước công dân; trả lại cho Nguyễn Văn N 01 chiếc điện thoại hiệu Masstel (bên trong có 01 thẻ sim).
(các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng số 143/BB/24 ngày 18/9/2024)
-
-
Về án phí: Mỗi Bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị V và Nguyễn Duy L1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nghiêm Hoài Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 134/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 134/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 13 và 12 tháng tù
