|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 124/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/9/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thiện
- Ông Nguyễn Thanh Bình
-Thư ký ghi biên bản phiên tòa:
bà Phạm Thị Thu Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên Tòa:
ông Nguyễn Hải Lĩnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 215/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Phạm Thị Xuân M, sinh năm: 2002
Nơi cư trú: Số C, đường số B, thôn B, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
-Bị đơn: Trần Minh H, sinh năm: 2000
Nơi cư trú: số A, đường số B, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa: nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2024, biên bản tự khai, biên bản hòa giải và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn Phạm Thị Xuân M trình bày: Chị và anh H tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại UBND xã Đ, huyện Đ. Sau khi kết hôn thì anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H lười lao động, không làm gì, suốt ngày đi chơi và nghiện ma túy đá. Ngoài ra mỗi khi mâu thuẫn thì anh H lại cầm dao dọa giết con. Hiện tại anh chị đã ly thân từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh H, chị yêu cầu ly hôn.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai tại phiên tòa. Bị đơn Trần Minh H trình bày:
-Về hôn nhân: Về quá trình kết hôn thì chị M trình bày hoàn toàn đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn: Anh thừa nhận nguyên nhân anh chị mâu thuẫn là do anh lười lao động, thường hay đi chơi. Hiện tại anh chị đã ly thân. Nay chị M cương quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị.
Về con chung: anh chị có 01 con chung Trần Phạm Đăng K, sinh ngày 10/5/2022. Khi ly hôn thì anh, chị yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu người còn lại phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật; Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51 va 2Điều 56 Luật Hộn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M là có căn cứ và đúng pháp luật.
-Về con chung: anh chị có 01 con chung, Trần Phạm Đăng K, sinh ngày 10/5/2022, cháu K hiện dưới 36 tháng tuổi, lại đang ở cùng chị M. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giao con cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp tại khoản 3, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
-Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 22/4/2024 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 15/7/2024; Anh H biết chị M khởi kiện ly hôn nhưng anh cố tình không có mặt theo sự triệu tập của Tòa. Chứng tỏ anh đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn Trần Minh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định của khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.
[4]Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Phạm Thị Xuân M và anh Trần Minh H có đăng ký kết hôn vào ngày 15/4/2022 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.
Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh đến đầu năm 2024 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp tính tình, anh H lại lười lao động. Vì vậy thường xuyên cãi nhau, làm cho tình cảm vợ chồng sứt mẻ. Thấy rằng, lời khai của anh chị là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nay chị M xác định không còn tình cảm với anh H nữa và cương quyết ly hôn. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng không thành, cho thấy “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M là đúng theo quy định tại Điều 51 và khoản 1, Điều 56 Luật Hôn Nhân và Gia đình; khoản 3 Điều 4 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao.
[5] Về con chung: Xét thấy hiện tại con Trần Phạm Đăng K, sinh ngày 10/5/2022, cháu K hiện dưới 36 tháng tuổi, lại đang ở cùng chị M. Nay chị M có nguyện vọng tiếp tục nuôi con Trần Phạm Đăng K, sinh ngày 10/5/2022. Hội đồng xét xử thấy chị M là người có sức khỏe, có tư cách đạo đức tốt, có nghề nghiệp thu nhập ổn định. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao con Trần Phạm Đăng K, sinh ngày 10/5/2022 cho chị M được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 3, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quyền thăm nom con: Để bảo đảm quyền lợi cho các cháu được phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nhận được tình yêu thương đầy đủ từ cả cha lẫn mẹ, cần xem xét tuyên quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi chị M ly hôn với anh H. Anh Trần Minh H phải chấp hành đúng quy định về việc thăm nom con tại khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Anh chị không tranh chấp. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[7]Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị M là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.
[8] Về áp dụng án lệ: Nghiên cứu các bản án lệ do TAND tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
[9] Xét ý kiến của Kiểm Sát V về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 1 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Áp dụng Điều 51, 56 và khoản 3, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Xuân M:
1/Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Xuân M ly hôn anh Trần Minh H.
2/Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Xuân M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 1 con: Trần Phạm Đăng K, sinh ngày 10/5/2022.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3/Về án phí DSST: Chị Phạm Thị Xuân M phải chịu 300.000đồng án phí DSST, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0004521 ngày 22/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị M đã nộp đủ án phí DSST.
4/Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đỗ Xuân Thuận |
Bản án số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 124/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
