Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày 20/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi – Bà Phạm Thị Ngọc Nga

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi – Thư ký viên

chính Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:107/2024/HS-ST, ngày 26/08/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:120/2024/QĐXXST-HS ngày 06/09/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn M, sinh năm 1983, tại Ninh Bình. Nơi cư trú: thôn B, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C và con bà: Nguyễn Thị H (đã chết); Vợ: Bùi Thị T; con: có 02 con, con nhỏ sinh năm 2019, lớn sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 01/2014/HSST ngày 17/01/2014, Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 18 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 08/02/2015. Tại bản án số 32/2017/HSST ngày 18/4/2017, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 18/9/2018. Ngày 20/10/2020, Công an xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 19/11/2020, Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số 77/2020/HSST ngày 21/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt 18 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 22/02/2022.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/5/2024 đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, Sinh năm: 1990, tại Ninh Bình. Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N và con bà: Nguyễn Thị T1; Vợ, con: chưa có;

Tiền án,Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 51/2017/HSST ngày 25/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 26/9/2018. Ngày 17/3/2023, Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/5/2024 đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn G, sinh năm: 1988. Có mặt

Trú tại: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

3. Người làm chứng:

- Ông Đinh Hùng S, sinh năm: 1952. Vắng mặt

-Anh Phạm Minh N1, sinh năm: 1980. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 27/05/2024, tổ công tác Công an phường T, thành phố N đang làm nhiệm vụ tại đường C, phố P, phường T, thành phố N phát hiện 01 nam thanh niên đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra người thanh niên đã thả từ lòng bàn tay phải xuống mặt đường cạnh vị trí đứng 01 gói nhỏ, gói ngoài bằng chiếc khẩu trang mầu đen thì bị tổ công tác phát hiện và yêu cầu người thanh niên nhặt lên giao nộp. Kiểm tra bên trong chiếc khẩu có 01 gói nhỏ gói ngoài bằng lớp nilon mầu vàng đen, bên trong có 01 gói nhỏ giấy mầu trắng chứa chất bột dạng cục mầu trắng. Người nam thanh niên này khai nhận tên là Nguyễn Văn M sinh năm 1983, cư trú tại: thôn B, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Người này khai nhận gói nhỏ chứa chất bột dạng cục mầu trắng là H1 roin vừa đi mua về. Ngoài ra, Nguyễn Văn M còn khai có người góp tiền đi mua cùng là Nguyễn Văn Đ đang đứng đợi M tại khu vực cổng sân vân động tỉnh Ninh Bình. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong chiếc khẩu trang bên trong có gói nhỏ chứa chất bột dạng cục mầu trắng vào phong bì quy định. Ngoài ra thu giữ của M 01 điện thoại di động nhãn

hiệu OPPO S20 Plus, màu đen, lắp sim số 0346.216.597 cùng 02 xilanh nhựa loại 0,3ml/cc và 01 lọ nước cất (chưa qua sử dụng). Ngay sau đó, một tổ công tác khác đã đến vị trí đứng như lời khai của Nguyễn Văn M và phát hiện một thanh niên đang ngồi trên xe máy có BKS: 35N-411-51. Tổ công tác kiểm tra người này khai nhận tên Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990, cư trú tại: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Đ khai nhận nhận góp tiền đi mua ma tuý cùng Nguyễn Văn M và đang đứng đợi M đi lấy ma tuý về. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn Đ cùng tang vật chứng, phương tiện xe máy về trụ sở công an phường T.

Quá trình điều tra các bị cao khai nhận hành vi phạm tội như sau: Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn Đ là bạn bè, cùng nghiện ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 27/5/2024 Nguyễn Văn M đi bộ tại thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình chơi thì gặp Nguyễn Văn Đ, biết Đ cũng là người sử dụng ma túy nên nói với Đ “Có thì góp hai trăm đi lấy ở dưới thành phố, nó bán quả sáu trăm, anh có bốn trăm rồi” ý bị cáo M nói với bị cáo Đ có tiền thì góp thêm 200.000 đồng để đi mua 600.000 đồng ma túy về cùng nhau sử dụng. Bị cáo Đ hiểu ý nên nói “Để em về xin mẹ”, sau đó đi bộ về nhà lấy tiền và điều khiển xe mô tô đi ra đưa cho bị cáo M số tiền 200.000 đồng. Bị cáo M cầm tiền và gọi cho một người tên là Q (M không biết họ tên, địa chỉ cụ thể Q ở đâu) nói “Tôi đang về đấy, tôi lấy một quả” ý bị cáo M nói Q bán cho một gói ma túy giá 600.000 đồng, Q nói khi nào xuống đến hai con voi thì gọi lại cho Q. Sau đó, bị cáo M điều khiển xe mô tô chở bị cáo Đ, trên đường đi bị cáo M đã vào một hiệu thuốc ven đường mua 02 xilanh và 01 lọ nước cất. Khi đi đến khu vực hai con voi thuộc phường T, thành phố N, bị cáo M gọi điện cho Q thì Q nói đi đến cổng chính sân vận động tỉnh N. Nguyễn Văn M tiếp tục điều khiển xe chở Nguyễn Văn Đ đi đến khu vực trên thì thấy Q đang ngồi trên xe mô tô, Q nói với M “Ngồi lên xe vào chỗ hẻm kia tôi đưa” và nói Đồng đi lui ra kia chờ. Bị cáo M lên ngồi sau xe Q, còn bị cáo Đ điều khiển xe quay lại một đoạn đứng chờ. Q chở bị cáo M đi vào trong một ngõ nhỏ rồi dừng xe thì bị cáo M đưa cho Quân số tiền 600.000 đồng, Q cầm tiền và đưa lại cho bị cáo M một gói nhỏ gói ngoài bằng khẩu trang mầu đen, sau đó bị cáo M cầm gói ma túy vừa mua được đi bộ ra chỗ bị cáo Đ thì bị tổ công tác phát hiện bắt giữ.

Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn M có khối lượng là 0,475 gam được cho vào trong túi nilon, ký hiệu M1 gửi giám định để xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 476/KL-KTHS-MT ngày 03/6/2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng là 0,4741 gam, là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc bảng danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của

Chính phủ. H2 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,4078 gam, là ma túy, loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 26/08/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn Đồng phạm t “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng : điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn M từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/05/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/05/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Áp dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy là H3 còn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, 02 xilanh nhựa loại 0.3ml/cc và 01 lọ nước cất. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO S20 Plus, màu đen, lắp sim số 0346.216.597 thu giữ của Nguyễn Văn M liên quan đến việc phạm tội.

Các bị cáo bị kết án phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn Đ không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người làm chứng. Từ những tình tiết và căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận

Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 27/5/2024, tại đường C, phố P, phường T, thành phố N các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn Đ đã có hành vi cất giấu trái phép 0,4741 gam, là ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện, bắt quả tang đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố các bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi nhưng không nhận thức tác hại của ma túy, để thỏa mãn nhu cầu riêng của bản thân dẫn đến phạm tội. Vì vậy, lần phạm tội này cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi của mỗi bị cáo.

Trong vụ án này có hai bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng mang tính đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn M là người khởi xướng rủ bị cáo Nguyễn Văn Đ góp tiền mua ma túy về sử dụng. Bị cáo là người bỏ số tiền đi mua ma túy nhiều hơn, là người chủ động liên lạc đối tượng để mua ma tuý và trực tiếp đi giao dịch nên bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ sau khi Nguyễn Văn M khởi xướng việc đi mua ma túy đã đồng tình hưởng ứng ngay, góp tiền cùng bị cáo M, dùng phương tiện của gia đình đưa bị cáo M chở bị cáo đi mua ma tuý nên bị cáo giữ vai trò sau. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để cá thể mức hình phạt cho phù hợp cụ thể như sau:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Nguyễn Văn Đồng đ có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.

Về nhân thân: Cả hai bị cáo nhiều lần bị đưa ra xét xử và bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi Trộm cắp tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo Nguyễn Văn M bị xét xử 03 lần và bị xử phạt hành chính 02 lần. Bị cáo Nguyễn Văn Đ bị xét xử 01 lần, xử phạt hành chính 01 lần. Mặc dù đã bị xét xử và xử phạt nhiều lần nhưng các bị cáo không thay đổi, vẫn tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội thể hiện các bị cáo coi thường pháp luật, khó cải tạo.

Lần xét xử này, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo buộc các bị cáo phải cách ly ra ngoài đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo để góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn Đ tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[2] Các vấn đề khác:

  • - Về tài sản thu giữ: Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Wave alpha màu trắng mang biển kiểm soát 35N1- 411.51 thu giữ của Nguyễn Văn Đ. Quá trình điều tra xác định tài sản là của anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình (là anh ruột của bị cáo Đ). Anh G không biết việc bị cáo hỏi mượn để đi mua ma túy. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại tài sản trên cho anh G theo quy định.Việc trả lại số tài sản trên của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
  • - Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan công an có thu giữ của các bị cáo 01 gói ma túy, sau khi trích một phần gửi đi giám định số mẫu vật còn lại là chất dạng bột dạng cục mầu trắng có khối lượng 0.4078g, là ma túy loại Heroine cùng toàn bộ giấy gói ban đầu đây là vật Nhà nước cấm lưu hành; 02 xilanh nhựa loại 0.3ml/cc và 01 lọ nước cất không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO S20 Plus, màu đen, lắp sim số 0346.216.597 thu giữ của Nguyễn Văn M liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Về nguồn gốc ma túy: quá trình điều tra Nguyễn Văn M khai ngày 27/5/2024 có gọi điện cho một người tên là Q sử dụng số điện thoại 0911.129.xxx và 0779.317.015 mà bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể để mua ma túy với giá 600.000 đồng. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu và xác định chủ thuê bao số điện thoại 0911.129.xxx là của anh Phạm Mạnh T2, sinh năm 1995, trú tại phố N, phường N, thành phố N và số điện thoại 0779.317.xxx là của chị Trần Thị Ngọc P, sinh năm

2003, trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, tuy nhiên quá trình điều tra anh T2 và chị P đều khai hiện nay không sử dụng những số điện thoại trên. Do vậy không có căn cứ để xác minh làm rõ.

[3] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn Đồng phạm t "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/05/2024.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/05/2024.

  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy là H3.còn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu; 02 xilanh nhựa loại 0.3ml/cc và 01 lọ nước cất.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO S20 Plus, màu đen, lắp sim số 0346.216.597 thu giữ của Nguyễn Văn M liên quan đến việc phạm tội.

    (Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 09 năm 2024 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - TANDTỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Ninh Bình;
  • - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình;
  • - Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Việt Thanh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Phạm Ngọc Lợi – Phạm Thị Ngọc Nga

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Việt Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M và đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger