|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19/08/2024
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Bời.
- Bà Nguyễn Thị Lý.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Phương Thảo – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Giỏi Mạnh Phi - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 620/2024/TB-TLVA ngày 18 tháng 07 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị M
Địa chỉ: Căn hộ 401 DACTXD lại nhà số B6 Nam C, Giảng V, Ba Đ, Hà Nội.
Có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T
Địa chỉ: 46B Huỳnh T K, Phước T, Nha Trang, Khánh Hòa.
Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai - nguyên đơn bà Hoàng Thị Mai trình bày:
Bà và ông Nguyễn Trung T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Angola vào năm 2014. Quá trình chung sống bà và ông T phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm nên cuộc sống chung không có hạnh phúc, mặc dù bà và ông T đã cố gắng khắc phục nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc. Vì vậy, bà và ông T đã ly thân hơn 03 năm nay, mạnh ai người đấy sống, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 02 (Hai) con chung tên Nguyễn Ngọc Mai A - sinh ngày 22/12/2014 và Nguyễn Hoàng Trung A - sinh ngày 18/10/2020. Khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Mai A, còn cháu Nguyễn Hoàng Trung A sẽ do ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và không yêu cầu cấp dưỡng.
Tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải – bị đơn ông Nguyễn Trung Thành trình bày:
Ông và bà Hoàng Thị M tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Angola vào năm 2014. Nay bà M xin ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông và bà M có 02 (Hai) con chung tên Nguyễn Ngọc Mai A - sinh ngày 22/12/2014 và Nguyễn Hoàng Trung A - sinh ngày 18/10/2020. Ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng Trung A, ông đồng ý để bà M nuôi con chung Nguyễn Ngọc Mai A và không yêu cầu cấp dưỡng.
Tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Thị M và ông Nguyễn Trung T không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Hoàng Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Trung T. Giao cháu Nguyễn Ngọc Mai A cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành; giao cháu Nguyễn Hoàng Trung A cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà M và ông T do không có yêu cầu.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét ý kiến trình bày của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn đang cư trú tại thành phố Nha Trang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Nguyên đơn, bà Hoàng Thị M và bị đơn, ông Nguyễn Trung Th vắng mặt nhưng đã có lời khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị M và ông Nguyễn Trung T kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Angola theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 09/09/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét lời trình bày của bà M cho rằng vợ chồng sống không có hạnh phúc, luôn xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn kéo dài khiến tình cảm vợ chồng không còn và thực tế là hiện nay bà M và ông T đã ly thân hơn 3 năm nay nên không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông T đến Tòa án để hòa giải, ông T đồng ý với việc khởi kiện của bà Mai về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà M và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu cứ tiếp tục duy trì cuộc sống gia đình thì cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà M là chính đáng, có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét nguyện vọng nuôi con chung nguyên đơn bà Hoàng Thị M khai: Vợ chồng bà có 02 (Hai) con chung, tên là Nguyễn Ngọc Mai A - sinh ngày 22/12/2014 và Nguyễn Hoàng Trung A - sinh ngày 18/10/2020. Bà M yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Ngọc Mai A và giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Trung A cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T đồng ý với nguyện vọng nuôi con chung của bà M.
Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Mai A - sinh ngày 22/12/2014 cho bà Hoàng Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau ly hôn và giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Trung A - sinh ngày 18/10/2020 cho ông Nguyễn Trung T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau ly hôn, là hợp lý.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[3] Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình 2015;
Căn cứ Điều 227; 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Trung T.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Mai A - sinh ngày 22/12/2014 cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành và cháu Nguyễn Hoàng Trung A - sinh ngày 18/10/2020 cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà M và ông T do không có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết, sau này có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Quy định: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Bà Hoàng Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002693 ngày 18/07/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà M đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Vũ Linh |
Bản án số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 124/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lh
