Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/DSPT

Ngày: 19-8-2024

V/v: Tranh chấp quyền sử

dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế

Ông Lê Quý My

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thuỷ Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Ngọc Kim Loan - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024 và ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 134/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐ - PT ngày 03 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1953 (có mặt)

    Địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tiến S, sinh năm 1977 (có mặt)

    Địa chỉ: Tổ 06, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

  2. Bị đơn:

    1. Ông Ma Văn T1, sinh năm 1961 (có mặt)

      Địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1: Ông Lê Quang N- Luật sư, văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.

    2. Ông Trịnh Văn C, sinh năm 1983 (có mặt)

      Nơi thường trú: Phố Trung Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

      Nơi ở: Số nhà 113, khu phố Trần Phú, thị trấn Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

    3. Anh Dương Văn T2, sinh năm 1995 (vắng mặt)

      Nơi thường trú: Xóm Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

      Chỗ ở hiện nay: Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

    4. Ông Nguyễn Như T3, sinh năm 1960 (vắng mặt)

      Địa chỉ: Tổ H, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    1. Chị Phạm Thu T4, sinh năm 2001 (vắng mặt)

      Nơi thường trú: Xóm Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

      Chỗ ở hiện nay: Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

      Người đại diện theo ủy quyền: Anh Dương Văn T2, sinh năm 1995 (vắng mặt)

      Nơi thường trú: Xóm Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

      Chỗ ở hiện nay: Tổ 7, phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

    2. Chị Ma Thị Thùy T5, sinh năm 1998 (vắng mặt)

      Địa chỉ: Tổ F, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ma Văn T1, sinh năm 1961 (có mặt)

      Địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

    3. Bà Phạm Thị Bích H, sinh năm 1969 (vắng mặt)

      Địa chỉ: Tổ H, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

    4. Chị Trần Thị Thu C1, sinh năm 1987 (vắng mặt).

      Nơi thường trú: Phố Trung Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

      Nơi ở: Số nhà 113, khu phố Trần Phú, thị trấn Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Văn C, sinh năm 1983.

      Nơi thường trú: Phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở: Số nhà A, khu phố T, thị trấn B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

  4. Người làm chứng:

    1. Chị Chu Thị Thúy H1, sinh năm 1978(vắng mặt)

      Địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    2. Anh Lăng Phi L,sinh năm 1978 (có mặt)

      Địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    3. Ông Trần Văn H2, sinh năm 1961(vắng mặt)

      Địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

  5. Người kháng cáo:

    Bà Nguyễn Thị Kim T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T và người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Kim T sử dụng thửa đất 596, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố T.Vị trí thửa đất: Một mặt tiếp giáp với đất ông Ma Văn T1 (thửa đất số 2150, tờ bản đồ số 07); Một mặt tiếp giáp với đất ông Trịnh Văn C (thửa đất số 667, tờ bản đồ số 07); Một mặt tiếp giáp với đất ông Nguyễn Như T3 (thửa 2096, tờ bản đồ số 07, sau đó chuyển nhượng cho anh Dương Văn T2); M còn lại tiếp giáp với đường giao thông của tổ dân phố. Nguồn gốc thửa đất này do bà T3 mua của ông Trương Hữu D năm 2003 và được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa: Y144097, số vào sổ cấp GCN: 00733B/QSDĐ/1535/2003/QĐ-UB/H ngày 27/10/2003 mang tên bà Nguyễn Thị Kim T. Sau khi mua thửa đất trên xong, gia đình chưa có điều kiện làm nhà, nên hiện trạng sử dụng đất vẫn để không.

Năm 2021 gia đình bà T có ý định xây dựng nhà trên đất thì phát hiện thửa đất của gia đình bà T đã bị các hộ ông Ma Văn T1, ông Nguyễn Như T3 và ông Trịnh Văn C lấn chiếm một phần diện tích, nên đã có đơn yêu cầu UBND phường Đ, thành phố T hòa giải tranh chấp đất đai. Ngày 05/8/2022 UBND phường tổ chức hoà giải giải quyết tranh chấp nhưng không thành, nên bà Nguyễn Thị Kim T đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên – Yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc ông Ma Văn T1 trả lại phần diện tích đất lấn chiếm khoảng 39m² tại thửa số 596, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;
  2. Buộc ông Nguyễn Như T3 trả lại phần diện tích đất lấn chiếm khoảng 08 m² tại thửa số 596, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;
  3. Buộc ông Trịnh Văn C trả lại phần diện tích đất lấn chiếm khoảng 10m² tại thửa số 596, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất Tổ G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Trong trình giải quyết vụ án, bà T3 xác định ông Nguyễn Như T3 đã chuyển nhượng lại thửa đất số 2096, tờ bản đồ số 7 cho anh Dương Văn T2, nên đã có đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, xác định người bị kiện đối với thửa đất 2096, tờ bản đồ số 07 là anh Dương Văn T2, rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Như T3, đồng thời yêu cầu tòa án buộc các hộ: Ông Ma Văn T1, anh Dương Văn T2 và anh Trịnh Văn C phải trả lại phần diện tích đất lấn chiếm theo kết quả đo vẽ khi xem xét thẩm định tại chỗ. Cụ thể là: Yêu cầu gia đình ông Ma Văn T1 phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm là 39,6m²; Yêu cầu gia đình anh Dương Văn T2 phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm là 1,1m²; Yêu cầu gia đình anh Trịnh Văn C phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm là 2,1m²

Bị đơn ông Ma Văn T1 và bà Đỗ Thị Bích N1, chị Ma Thị Thùy T5 trình bày: Hiện nay gia đình ông T1, bà N1 đang sử dụng thửa đất số 2150, tờ bản đồ số 7, địa chỉ phường Đ, thành phố T. Nguồn gốc thửa đất này do gia đình ông T1 nhận chuyển nhượng của chị Chu Thị Thúy H1 và anh Lăng Phi L năm 2021. Ngày 20/12/2021, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 995871, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 00557, mang tên ông Ma Văn T1.

Khi ông T1 nhận chuyển nhượng thửa đất trên của vợ chồng anh Lăng Phi L – Chu Thị Thúy H1 thì hiện tại thửa đất đã có nhà ở và công trình xây dựng như hiện nay, toàn bộ công trình xây dựng trên đất là do vợ chồng chị H1 xây, ông T1 không phải là người xây dựng và có hành vi lấn chiếm thửa đất nhà bà T3. Tháng 02 năm 2022 gia đình ông T1 được UBND phường Đ mời đến hoà giải giải quyết tranh chấp đất đai, thì ông mới biết thửa đất nhà ông lấn sang đất nhà bà T3.

Nay bà Nguyễn Thị Kim T có đơn khởi kiện, yêu cầu gia đình ông T1 phải trả lại phần diện tích đất lấn chiếm 39,6m², ông T1, bà N1 và chị T5 không nhất trí, bởi khi ông T1 nhận chuyển nhượng thửa đất này thì trên đất đã có nhà và công trình xây dựng do gia đình chị H1 xây theo giấy phép xây dựng.

Bị đơn anh Trịnh Văn C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Trần Thị Thu C1 trình bày: Thửa đất số 667, tờ bản đồ số 7 do vợ chồng anh C đang sử dụng có nguồn gốc là nhận chuyển nhượng của nhà ông Nguyễn Văn Đ năm 2021 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 00256, ngày 24/6/2021, mang tên Trịnh Văn C. Sau khi mua thửa đất trên thì đến tháng 7 năm 2021 vợ chồng anh C xây dựng căn nhà cấp 4, mái lợp tôn và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Quá trình việc triển khai xây dựng nhà trên thửa đất, anh C được cơ quan nhà nước cấp giấy phép xây dựng và có mời chính quyền địa phương đến kiểm tra cắm mốc xác định ranh giới thửa đất và không có tranh chấp. Tháng 2 năm 2022 anh C được UBND phường Đ mời ra hòa giải, thì anh mới biết thửa đất của gia đình mình lấn sang đất nhà bà Nguyễn Thị Kim T.

Nay gia đình bà T khởi kiện yêu cầu gia đình anh phải tháo dỡ công trình để trả lại cho bà T quyền sử dụng đất đã lấn chiếm là 2,1m², anh C và chị C1 không nhất trí, chỉ đồng ý thanh toán giá trị quyền sử dụng đất diện tích 2,1m² cho gia đình bà T theo giá của kết quả định giá tài sản.

Bị đơn anh Dương Văn T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thu T4 trình bày: Gia đình anh T2 sử dụng thửa đất số 2096 tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất Tổ G, phường Đ. Nguồn gốc đất thửa đất này do anh T2 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Như T3 từ tháng 5 năm 2023, sau đó được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 00918, ngày 19/05/2023, mang tên Dương Văn T2. Khi anh T2 nhận chuyển nhượng của ông T3 thửa đất trên thì trên đất đã có nhà trên đất như hiện nay, hiện trạng sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất không có gì thay đổi. Quá trình giải quyết vụ án xác định thửa đất nhà anh Dương Văn T2 đã lấn sang nhà bà T3 diện tích là 1,1m², anh T2 đã thỏa thuận được với người đại diện theo ủy quyền của bà T3, thanh toán cho gia đình nhà bà T3 giá trị quyền sử dụng đất diện tích 1,1m², với số tiền là 20.000.000đ và đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên, để điều chỉnh ranh giới quyền sử dụng đất theo như hiện trạng.

- Bị đơn ông Nguyễn Như T3 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Bích H trình bày: Đầu năm 2021 ông T3 có nhận chuyển nhượng của vợ chồng chị Nguyễn Thị Thùy L1 thửa đất 2096, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất Tổ G, phường Đ, sau đó vợ chồng ông tiến hành xây dựng căn nhà nhà trên đất như hiện nay. Đến tháng 5 năm 2023 do không có nhu cầu sử dụng, nên vợ chồng ông T3 đã chuyển nhượng lại cho anh Dương Văn T2 và hai bên đã làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Nay vợ chồng ông T3 xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan và có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Người làm chứng trình bày:

- Chị Chu Thị Thúy H1, anh Lăng Phi L trình bày: Năm 2003 chị có nhận chuyển nhượng của bà T6 thửa đất số 498a, tờ bản đồ số 7 (nay là thửa số 2150, tờ bản đồ số 07), với diện tích 160m² và được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00671B/QSDĐ/980/2003/QĐ-UB/H ngày 28/7/2003, mang tên chị Chu Thị Thúy H1. Đến năm 2013 chị H1 mua thêm của ông Trần Ngọc N2 và bà Đỗ Thị T7 với diện tích 58m² (vị trí diện tích đất chuyển nhượng: Phía Đông giáp đất ông N2 – bà T7; Phía tây giáp đất anh N3; Phía Bắc giáp đất gia đình ông Nguyễn Thị Minh P; Phía Nam giáp đất chị Chu Thị Thúy Hl) và được chính quyền địa phương xác nhận, (nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền). Sau khi nhận chuyển nhượng phần diện tích 58m²của gia đình ông N2, thì ngày 08/11/2013 gia đình chị H1 và gia đình bà Nguyễn Thị Minh P có văn bản thỏa thuận đổi đất cho nhau (mỗi gia đình đổi cho nhau diện tích 2m²) và được UBND phường xác nhận. Đến tháng 9 năm 2013 chị H1 được UBND thành phố T cấp giấy phép xây dựng và gia đình chị xây 01 căn nhà 03 tầng như hiện nay. Sau đó do không có nhu cầu sử dụng, nên ngày 18/11/2021 chị H1 và anh L lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất và công trình xây dựng trên đất cho ông Ma Văn T1 tại Văn phòng C2 và gia đình ông T1 sử dụng ổn định từ đó cho đến nay, không có gì thay đổi. Trong quá trình giải quyết vụ án, gia đình chị H1 và gia đình ông T1 đã tự tiến hành việc kiểm tra, đo đạc thì xác định vị trí đất chị H1 chuyển nhượng cho ông T1 đúng như trong hồ sơ quyền sử dụng đất của thửa đất số 2150.

- Ông Trần Văn H2 trình bày: Nguồn gốc đất ông Ma Văn T1 đang ở hiện nay có nguồn gốc là của cụ Trần Ngọc N2, sau đó đã làm nhà cấp 4 cho em trai tên là Triệu Quốc H3 từ năm 1990 – 1993. Khi gia đình ông Trần Quốc H4 chuyển đi M thì chuyển nhượng lại cho bà T6, sau đó bà T6 chuyển nhượng lại cho chị H1 và chị H1 đã xây nhà trên đất như hiện nay, đến năm 2021 thì chị H1 chuyển nhượng lại cho ông T1.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã Tuyên xử:

  1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim T về việc tranh chấp về quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Như T3 tại thửa đất số 596, tờ bản đồ số 07, phường Đ, thành phố T.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim T về việc tranh chấp về quyền sử dụng đất đối với ông Ma Văn T1, anh Trịnh Văn C và anh Dương Văn T2 tại thửa đất số 596, tờ bản đồ số 07, phường Đ, thành phố T.
  3. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa anh Dương Văn T2 với bà Nguyễn Thị Kim T: Buộc anh Dương Văn T2 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim T giá trị quyền sử dụng đất diện tích 1,1m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ với số tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Giao cho anh Dương Văn T2 được quyền sử dụng đất diện tích 1,1m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ, thành phố T(Vị trí diện tích đất anh T2 được giao theo sơ đồ kèm theo bản án là phần diện tích nối các điểm: 13-14-15-18-13).
  4. Buộc ông Ma Văn T1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim T giá trị quyền sử dụng đất phần diện tích là 39,6m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ với số tiền là 156.816.000đ (Một trăm năm mươi sáu triệu, tám trăm mười sáu nghìn đồng). Giao cho ông Ma Văn T1 được quyền sử dụng phần diện tích 39,6m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ, thành phố T (Vị trí diện tích đất ông T1 được giao theo sơ đồ kèm theo bản án là phần diện tích nối các điểm: 8-9-10-11-24-12-8).
  5. Buộc anh Trịnh Văn C phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim T giá trị quyền sử dụng đất phần diện tích 2,1m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ với số tiền là với số tiền là 8.316.000đ (Tám triệu, ba trăm mười sáu nghìn đồng). Giao cho anh Trịnh Văn C được quyền sử dụng diện tích 2,1m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ, thành phố T (Vị trí diện tích đất anh C được giao theo sơ đồ kèm theo bản án là phần diện tích nối các điểm: 14-19-20-15-14).

Sau khi ông Ma Văn T1, anh Trịnh Văn C, Dương Văn T2 thanh toán giá trị quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Kim T, bản án có hiệu lực pháp luật thì các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc cập nhật, chỉnh lý điều chỉnh phần diện tích đất nêu trên theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 13/10/2023 ông Trần Tiến S và bà Nguyễn Thị Kim T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm và đề nghị ông Ma Văn T1 phải trả cho gia đình bà diện tích đất đã lấn chiếm 39,6m² trong đó phần diện tích đất ông T1 đã xây dựng nhà ở thì thanh toán bằng giá trị theo giá thị trường là 20.000.000đồng/1 m²; phần diện tích đất ông T1 xây dựng hàng rào và làm sân thì phải tháo dỡ trả lại đất cho gia đình bà.

Đề nghị buộc ông Trịnh Văn C phải tháo dỡ công trình nhà ở trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm là 2,1m².

Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bà Đỗ Thị Bích N1 cung cấp 01 trích lục quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự của bà Đỗ Thị Ánh N4 và ông Ma Văn T1. Bà N5 có đơn trình bày giữa bà và ông T1 không còn là vợ chồng, thửa đất tranh chấp là tài sản của riêng của ông T1, bà không phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tại phiên tòa ngày 21/5/2021 ông Ma Văn T1 đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xem xét thẩm định lại để xác định đúng vị trí, diện tích đất đang tranh chấp giữa gia đình ông với gia đình nhà bà T.

Tòa án đã quyết định xem xét thẩm định lại, mời công ty Cổ phần T8 và xây dựng số 6 tiến hành đo bằng máy, kết quả thể hiện phần diện tích nhà xây của gia đình ông T1 đã xây lấn sang thửa đất số 596 tờ bản đồ số 7 là 15,1m² và tại vị trí sân và tường rào xây nhà ông T1 lấn sang thửa đất số 596 của bà T có diện tích 24,5m². Tổng diện tích là 39,6m².

Tại phiên toà phúc thẩm bà T, người đại diện theo uỷ quyền của bà T trình bày các căn cứ kháng cáo và đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T.

Bị đơn ông T1 và anh C không nhất trí kháng cáo của bà T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ma Văn T1 trình bày quan điểm bảo vệ cho ông T1 và cho rằng: Bản án sơ thẩm đã xác định tư cách tham gia tố tụng của bà H1 và ông L là người bán nhà đất cho ông T1 là người làm chứng là không đúng mà phải xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Ông T1 là người thứ 3 mua bán ngay tình được Nhà Nước bảo vệ, ông T1 không có trách nhiệm bồi thường cho bà T và bà T không có quyền khởi kiện ông T1. Về nội dung: Án sơ thẩm buộc ông Ma Văn T1 bồi thường giá trị 39,6m² với số tiền là 156.816.000 đồng, ông đã T1 nhất trí, không kháng cáo, không có căn cứ chấp nhận giá bồi thường theo giá thị trường 20.000.000 đồng/1m². Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bà T.

Ông Ma Văn T1 nhất trí quan điểm bảo vệ của luật sư và không tranh luận.

Bị đơn ông Trịnh Văn C tranh luận: Không nhất trí kháng cáo của bà T, bởi lẽ: Gia đình ông khi xây dựng nhà không có vi phạm, xây dựng đúng diện tích, khi gia đình ông xây dựng nhà thì bà T là người có đất liền kề không có mặt để ký giáp ranh, gia đình ông không tìm thấy cột mốc đất của gia đình bà T, tại thời điểm cấp đất cho bà T chỉ đo bằng công cụ thô sơ còn hiện nay bà T khởi kiện được đo bằng vệ tinh nên tỷ lệ ranh giới không thể chính xác tuyệt đối. Quá trình giải quyết ông cũng không biết giấy chứng nhận QSD đất của bà T cụ thể là bao nhiêu, loại đất gì. Ông C không nhất trí bồi thường cho bà T, tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm ông C không kháng cáo.

Nguyên đơn bà T và người đại diện theo ủy quyền của bà T không tranh luận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ vào kết quả thẩm định của Tòa án cấp sơ thẩm thấy thửa đất 2150 của ông Ma Văn T1 lấn sang thửa đất số 596 của bà Nguyễn Thị Kim T diện tích là 39,6 m², trong đó có 15,1m² là nhà ở 03 tầng của ông Ma Văn T1 và 24,5m² là hàng rào nan bê tông ngăn cách với thửa đất số 596 của bà T. Đối với diện tích đất gia đình ông T1 đã xây dựng công trình kiên cố thì không thể buộc tháo dỡ trả lại đất cho nguyên đơn, mà cần buộc ông T1 thanh toán giá trị bằng tiền đối với diện tích 15,1 m², diện tích 24,5 m² còn lại gia đình ông T1 là sân và xây hàng rào nên nếu buộc tháo dỡ không ảnh hưởng đến kết cấu công trình xây dựng cũng như sinh hoạt của gia đình ông T1, nên cần buộc ông T1 tháo dỡ hàng rào trả lại gia đình bà T diện tích đất này là phù hợp. Diện tích đất gia đình anh Trịnh Văn C lấn là 2,1m². Trên đất có 01 phần ngôi nhà cấp 4, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu anh C tháo dỡ phần công trình xây dựng trên đất để trả lại đất cho nguyên đơn là không phù hợp, nếu buộc tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu của công trình xây dựng nên buộc anh C phải thanh toán giá trị bằng tiền cho nguyên đơn đối với diện tích đất này là phù hợp. Về nội dung nguyên đơn kháng cáo đề nghị nếu thanh toán giá trị đất bằng tiền thì phải thanh toán theo giá thị trường. Xong tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn ông T1 và anh C không đồng ý định giá theo giá thị trường nên không có căn cứ để định giá lại. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim T. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Buộc ông T1 phải tháo dỡ tường rào trả lại diện tích đất 24,5 m² cho bà T.

Bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của đương sự; ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim T làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Về nguồn gốc thửa đất thửa đất số 596, tờ bản đồ số 7, diện tích 304m² của bà Nguyễn Thị Kim T: Do nhận chuyển nhượng lại của ông Trương Hữu D ngày 15/8/2003 và được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa: Y144097, số vào sổ cấp GCN: 00733B/QSDĐ/1535/2003/QĐ-UB/H ngày 27/10/2003, mang tên bà Nguyễn Thị Kim T. Vị trí thửa đất của bà T: Phía Bắc giáp thửa 2150 của ông Ma Văn T1; Phía Nam: Một phần giáp thửa 2096 của anh Dương Văn T2 và một phần tiếp giáp thửa 667 của anh Trịnh Văn C và một phần giáp đường giao thông; Phía Tây giáp đường giao thông của tổ dân phố; Phía Đông giáp thửa 500 tờ bản đồ số 7. Kể từ khi nhận chuyển nhượng thửa đất trên, gia đình bà T vẫn để không, hiện trạng sử dụng đất không có công trình, nhà ở trên đất.

- Về nguồn gốc thửa đất số 2150, tờ bản đồ số 7, diện tích 160m² của ông Ma Văn T1 có nguồn gốc trước đây là thửa 498a, tờ bản đồ số 07, do ông T1 nhận chuyển nhượng của chị Chu Thị Thúy H1 năm 2021 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 995871, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 00557 ngày 20/12/2021, mang tên ông Ma Văn T1. Khi ông T1 nhận chuyển nhượng thì trên thửa đất này chị H1 đã xây dựng căn nhà 03 tầng, tường rào bao quanh phía trước nhà trên toàn bộ diện tích của thửa 2150 và một phần diện tích đất của thửa 894, tờ bản đồ số 07 (do chị H1 đổi với bà Nguyễn Thị Minh P từ năm 2013). Hiện trạng sử dụng đất sau khi ông T1 nhận chuyển nhượng của chị H1 đến nay không có gì thay đổi.

- Về nguồn gốc thửa đất số 667, tờ bản đồ số 7, diện tích 74,9m² của anh Trịnh Văn C có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Đ, năm 2021 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS 00256, ngày 24/6/2021, mang tên Trịnh Văn C. Tháng 7 năm 2021 vợ chồng anh Trịnh Văn C và chị Trần Thị Thu C1 xin cấp phép xây dựng và tiến hành xây dựng căn nhà cấp 4, lợp mái tôn. Quá trình triển khai việc xây dựng nhà trên thửa đất không có tranh chấp và gia đình anh C sử dụng ổn định cho đến nay.

Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11 tháng 8 năm 2024 xác định diện tích đất tranh chấp, cụ thể:

- Thửa đất 2150 của ông Ma Văn T1 lấn sang thửa đất số 596 của bà Nguyễn Thị Kim T diện tích là 39,6m² trong phần diện tích đất lấn sang đất của bà T có 15,1m² là nhà ở 03 tầng của ông Ma Văn T1 và 24,5m² là hàng rào nan bê tông ngăn cách với thửa đất số 596 của bà T

- Thửa đất 667 tờ bản đồ số 7, diện tích 74,9m² của anh Trịnh Văn C lấn sang thửa 596 của bà T diện tích là 2,1m² .

Bản án sơ thẩm xác định công trình xây dựng của gia đình ông Ma Văn T1 và anh Trịnh Văn C đã xây dựng lấn sang thửa 596 của bà T là có căn cứ.

Tuy nhiên, bản án sơ thẩm đã quyết định: Buộc ông Ma Văn T1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim T giá trị quyền sử dụng đất phần diện tích là 39,6m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ với số tiền là 156.816.000đ (Một trăm năm mươi sáu triệu, tám trăm mười sáu nghìn đồng). Giao cho ông Ma Văn T1 được quyền sử dụng phần diện tích 39,6m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ, thành phố T là chưa đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn. Bởi lẽ: Đối với phần đất hiện nay gia đình ông Ma Văn T1 đã xây nhà được xác định diện tích nhà ở 03 tầng của gia đình ông Ma Văn T1 xây dựng lấn sang đất của bà T có 15,1m². Vì đây là công trình kiên cố nên án sơ thẩm buộc gia đình ông T1 phải trả giá trị đất theo giá của Hội đồng định giá cho bà T là có căn cứ. Bà T yêu cầu ông T1 phải trả cho bà T theo giá thị trường 20.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.

Theo kết quả định giá tài sản ngày 08/9/2023 thì loại đất ở đô thị có giá là 3.960.000 đồng/m². Cụ thể: 15,1m2 x 3.960.000 đồng = 59.796.000 đồng. Ông T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho bà T.

Đối với phần đất hiện nay gia đình ông Ma Văn T1 đã xây hàng rào nan bê tông ngăn cách với thửa đất số 596 của bà T là 24,5m², nay gia đình ông T1 đang làm sân và lối đi vào nhà, không phải là công trình xây dựng kiên cố nên cần phải buộc gia đình ông Ma Văn T1 tháo dỡ hàng rào trả lại gia đình bà T diện tích đất này là có căn cứ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.

Xét nội dung kháng cáo của bà T yêu cầu ông Ma Văn T1 phải trả lại cho bà T 24,5m2 đất như phân tích nêu trên là có căn cứ chấp nhận.

Xét yêu cầu kháng cáo buộc ông C phải tháo rỡ công trình xây dựng lấn sang thửa đất 596 của bà T diện tích là 2,1m², Hội đồng xét xử thấy: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ có căn cứ xác định gia đình ông C đã xây nhà lấn sang thửa đất số 596 của bà T diện tích là 2,1m2. Tuy nhiên, việc buộc gia đình ông C phải tháo dỡ công trình xây dựng để trả lại đất cho bà T sẽ làm ảnh hưởng đến kết cấu công trình nhà ở của ông C. Án sơ thẩm quyết định buộc gia đình ông C phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim T giá trị quyền sử dụng đất phần diện tích 2,1m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ với số tiền là với số tiền là 8.316.000đ (Tám triệu, ba trăm mười sáu nghìn đồng) là có căn cứ. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T về nội dung này.

Như phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bà T và chấp nhận một phần đề nghị của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ma Văn T1. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

[3]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.

Về án phí phúc thẩm: Do bà Nguyễn Thị Kim T được chấp nhận một phần kháng cáo nên bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Về lệ phí xem xét thẩm định lại: Ông T1 phải chịu 7.000.000 đồng, ông T1 đã thực hiện xong.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim T.
  2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên .

  3. Buộc ông Ma Văn T1 phải thanh toán giá trị đất đã xây nhà có diện tích là 15,1m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ cho bà Nguyễn Thị Kim T số tiền là 59.796.000 đồng.
  4. Ông Ma Văn T1 được quyền sử dụng phần diện tích 15,1m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ, thành phố T có vị trí (2) tại điểm P,O,X,Y,M',P theo bản trích đo hiện trạng tháng 7 năm 2024. Đất đã có giấy chứng nhận QSD đất mang tên bà Nguyễn Thị Kim T số Y144097, số vào sổ cấp GCN: 00733B/QSDĐ/1535/2003/QĐ-UB/H ngày 27/10/2003, mang tên bà Nguyễn Thị Kim T. Có sơ đồ kèm theo. Ông Ma Văn T1 có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện cấp đất theo quy định

    Buộc ông Ma Văn T1 phải tháo rỡ toàn bộ công trình xây dựng trên diện tích 24,5m² là hàng rào nan bê tông ngăn cách với thửa đất số 596 tờ bản đồ số 7, phường Đ, thành phố T của bà T tại vị trí (1) là A,Q,P,M',A để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị Kim T quản lý sử dụng. Đất đã có giấy chứng nhận QSD đất mang tên bà Nguyễn Thị Kim T số Y144097, số vào sổ cấp GCN: 00733B/QSDĐ/1535/2003/QĐ-UB/H ngày 27/10/2003, Có sơ đồ kèm theo.

  5. Buộc anh Trịnh Văn C và chị Trần Thị Thu C1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim T giá trị quyền sử dụng đất phần diện tích 2,1m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ với số tiền là với số tiền là 8.316.000đ (Tám triệu, ba trăm mười sáu nghìn đồng). Giao cho anh Trịnh Văn C được quyền sử dụng diện tích 2,1m² tại thửa 596, tờ bản đồ số 7, phường Đ, thành phố T. Tại vị trí S,G',H,I,T,S. Có sơ đồ kèm theo.
  6. Án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Bà Nguyễn Thị Kim T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trả lại 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0002090 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  7. Về lệ phí xem xét thẩm định: Ông Ma Văn T1 phải chịu 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) lệ phí xem xét thẩm định (ông T1 đã thực hiện xong).

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND TPTN;
  • - THADS TPTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/DSPT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 124/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim T. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger