|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2023/HS-ST
Ngày: 18/10/2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Minh Huấn |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Lài Thị Thu Hà; |
| Bà Ngô Thị Luân. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST–HS ngày 04 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
- Nguyễn Hoàng H, sinh năm 2000; tại: Tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn R, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, con bà Hoàng Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L “có mặt”.
- Thi Quốc T1, sinh năm 2000; tại: Tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thi Quốc T2, con bà Huỳnh Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L “có mặt”.
- Người Làm chứng: Bà Cống Thị Lan A, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 04/6/2023, tại phòng trọ số 5 của bà Cống Thị Lan A thuộc thôn N, xã P, huyện L. Nguyễn Hoàng H, có rủ và bàn với Thi Quốc T1 đi mua ma túy để sử dụng và bán kiểm lời thì T1 đồng ý. Sau đó, H gọi điện thoại cho một người đàn ông bán ma túy mà trước đây H được bạn nghiện ma túy giới thiệu để hỏi mua ma túy, loại ma túy “đá” với số tiền 2.500.000đ (số tiền này là của H bỏ ra) thì người này đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại cổng tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L. Sau đó, H một mình điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream, màu đen, mang biển kiểm soát 49N7-5512 đến điểm hẹn. Khi mua được ma túy, H điều khiển xe về lại phòng trọ. Tại phòng trọ, H lấy gói ma túy vừa mua được ra cho T1 xem rồi cất giấu vào túi đeo màu xanh của H treo trong phòng. Đến chiều ngày 05/6/2023, khi chỉ có T1 đang ở phòng trọ thì có người gọi điện thoại cho T1 hỏi mua ma túy số tiền 300.000đ thì T1 đồng ý và hẹn giao ma túy tại ngã ba Trại giống thuộc xã T, huyện L. T1 lấy gói ma túy H cất giấu trong túi đeo màu xanh ra chia một ít vào một gói nylon, gói ma túy còn lại T1 cất giấu lại vào túi đeo màu xanh. Sau đó, T1 một mình điểu khiến xe mô tô hiệu Honda Dream, màu đen, mang biển kiểm soát 49N7-5512 đi giao ma túy. Khi đến điểm hẹn, T1 gọi điện thoại cho người mua ma túy thì người này chỉ dẫn T1 đi thêm một đoạn thì T1 gặp một thanh niên đứng bên đường. Qua nói chuyện, T1 biết được đây là người đặt mua ma túy nên T1 đưa gói ma túy và nhận số tiền 300.000đ. Sau khi bán được ma túy, T1 điều khiển xe trở về phòng trọ thì gặp H. T1 nói với H là mới bán một ít ma túy với số tiển 300.000đ rồi đưa số tiền trên cho H. H lấy gói nylon chứa ma túy trong túi đeo màu xanh ra chia một phần thành 02 gói nylon nhỏ ma túy khác rồi để trên nệm gần vị trí H ngồi, phần ma túy còn lại H cất giấu lại vào trong túi đeo màu xanh. Khi H và T1 đang ở trong phòng trọ thì Cơ quan Công an tới kiểm tra, phát hiện toàn bộ số ma túy trên. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật và đưa H, T1 về trụ sở để làm việc. Tại cơ quan Công an H, T3 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ:
- 02 (hai) gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì đánh số 01.
- 01 (một) gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì đánh số 02.
- 01 kéo kim loại, 02 ống hút nhựa màu đỏ trắng, 01 cân tiểu ly màu bạc được niêm phong vào phong bì đánh số 03.
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu gold được niêm phong vào phong bì đánh số 04.
- Số tiền 300.000đ được niêm phong vào phong bì đánh số 05.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J6 màu đen được niêm phong vào phong bì đánh số 06.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Dream, màu đen, mang biển kiểm soát 49N7-5512 có số máy C100ME8160164, số khung C100M8160164 đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 637/KL-KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh L xác định:
Phong bì 01: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong hai gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4287g (không phẩy bốn hai tám bảy gam), loại Methamphetamine.
Phong bì 02: Mẫu tinh thể (M2) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,8318g (hai phấy tám ba một tám gam), loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị can Nguyễn Hoàng H và người đàn ông mua ma túy từ bị can Thi Quốc T1, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên để nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Dream, màu đen, mang biển kiểm soát 49N7 5512 có số máy C100ME8160164, số khung C100M8160164 mà bị can H dùng làm phương tiện đi mua ma túy và bị can T1 sử dụng phương tiện đi bán ma túy. Quá trình điều tra xác minh đến nay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp do đó cần giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh làm rõ đề xuất xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 122/CT-VKS ngày 27/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Thi Quốc T1 ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Thi Quốc T1 về tội “Mua bán trái phép chất chất ma túy”, đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H từ 30 đến 36 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thi Quốc T1 từ 24 đến 30 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 02 phong bì được niêm phong số 637/2023-PC09, 01 kéo kim loại, 02 ống hút nhựa màu đỏ trắng, 01 cân tiểu ly màu bạc đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 300.000₫ do các bị cáo phạm tội mà có; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu gold, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J6 màu đen các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Dream, màu đen, mang biển kiểm soát 49N7 5512 có số máy C100ME8160164, số khung C100M8160164 mà bị cáo H dùng làm phương tiện đi mua ma túy và bị cáo T1 sử dụng phương tiện đi bán ma túy. Quá trình điều tra xác minh đến nay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp do đó đề nghị giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh làm rõ đề xuất xử lý sau.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng bà Công Thị Lan A1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử; đồng thời, không có ai đề nghị hoãn phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo H không nghiện ma túy nhưng do điều kiện khó khăn và biết T1 là người nghiện ma túy có mối quan hệ ngoài xã hội rộng nên vào ngày 04/6/2023, H đã bàn với T1 đi mua ma túy về bán kiểm lời thì T1 đồng ý. Sau đó, H gọi điện thoại cho một người đàn ông ở tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L để hỏi mua ma túy đá với số tiền 2.500.000đ. Sau khi mua được ma túy thì H mang về phòng trọ cất giấu. Đến chiều ngày 05/6/2023 thì T1 chia ra một ít bán cho một người đàn ông được số tiển 300.000đ và đưa tiền cho H. Đến khoảng 21 giời 45 phút cùng ngày tại phòng trọ thì H lấy gói ma túy ra chia một phần thành 02 gói nhỏ thì Cơ quan Công an tới kiểm tra, phát hiện toàn bộ số ma túy trên lập biên bản phạm tội quả tang.
[3.1] Xét lời khai phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, nội dung bản Cáo trạng truy tố, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Nguyễn Hoàng H và Thi Quốc T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà truy tố là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
[3.2] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, vì mục đích vụ lợi. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vân thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bởi vì, ma túy là loại độc dược có nhiều tác hại đối với sức khỏe con người là nguyên nhân gây ra những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và phát sinh theo nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy dưới mọi hình thức nhưng chỉ vì mục đích lợi nhuận, các bị cáo không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này mà các bị cáo đã đi mua về bán kiếm lời nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ do các bị cáo đã gây ra.
[3.3] Xét vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau. Bị cáo H biết rõ bị cáo T1 là người nghiện ma túy có mối quan hệ với nhiều người nghiện ma túy nên bị cáo đã rủ T1 đi mua ma túy về để bán kiếm lời, bị cáo là người bỏ tiền và trực tiếp đi mua ma túy. Còn bị cáo T1 là người trực tiếp đi bán ma túy sau đó đưa tiền về cho bị cáo H. Xét thấy, tính chất, mức độ của bị cáo H trong vụ án này là người giữ vai trò chính nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T1 là phù hợp.
[3.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[3.6] Từ những phân tích nhận định như trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận quan điểm luật tội của đại diện Viện kiểm sát, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật; đồng thời, nhằm răn đe giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều còn trẻ chưa có nghề nghiệp ổn định, bị cáo T1 là người nghiện ma túy nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[5] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Hoàng H và người đàn ông mua ma túy từ bị cáo Thi Quốc T1, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án do Cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà gồm:
- Số tiền 300.000đ;
- 02 phong bì được niêm phong số 637/2023-PC09, có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T4”, “Nguyễn Văn C”, “Đặng Quốc T5” và dấu hình tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L;
- 01 phong bì niêm phong số 03 có chữ ký của Lê Anh T6, Cống Thị Lan A, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Tiến L1 – Trưởng Công an xã và dấu tròn đỏ của Công an xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (bên trong chứa 01 kéo kim loại, 02 ống hút nhựa màu đỏ trắng, 01 cân tiểu ly màu bạc).
- 01 phong bì niêm phong số 04 có chữ ký của Lê Anh T6, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Tiến L1 – Trưởng Công an xã và dấu tròn đỏ của Công an xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (bên trong chứa 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu gold);
- 01 phong bì niêm phong số 06 có chữ ký của Lê Anh T6, Thi Quốc T1, Nguyễn Tiến L1 – Trưởng Công an xã và dấu tròn đỏ của Công an xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (bên trong chứa 01 điện thoại di động hiệu Samsung J6 màu đen).
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số tiền 300.000₫ là do các bị cáo phạm tội mà có và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu gold thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng H, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J6 màu đen thu giữ của bị cáo Thi Quốc T1 thì các bị cáo đã làm công cụ để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 02 phong bì được niêm phong số 637/2023-PC09 bên trong chứa chất ma túy gửi đi giám định pháp luật cấm sử dụng, 01 kéo kim loại, 02 ống hút nhựa màu đỏ trắng, 01 cân tiểu ly màu bạc là công cụ các bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Dream, màu đen, mang biển kiểm soát 49N7 5512 có số máy C100ME8160164, số khung C100M8160164 mà bị can H dùng làm phương tiện đi mua ma túy và bị cáo T1 sử dụng phương tiện đi bán ma túy. Quá trình điều tra xác minh đến nay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp do đó cần giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Thi Quốc T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng H 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Thi Quốc T1 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023.
-
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- 02 phong bì được niêm phong số 637/2023-PC09, có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T4”, “Nguyễn Văn C”, “Đặng Quốc T5” và dấu hình tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L;
- 01 phong bì niêm phong số 03 có chữ ký của Lê Anh T6, Cống Thị Lan A, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Tiến L1 – Trưởng Công an xã và dấu tròn đỏ của Công an xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (bên trong chứa 01 kéo kim loại, 02 ống hút nhựa màu đỏ trắng, 01 cân tiểu ly màu bạc).
- - Sung vào ngân sách Nhà nước:
- Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng);
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus, màu gold được niêm phong vào phong bì đánh số 04 có chữ ký của Lê Anh T6, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Tiến L1 – Trưởng Công an xã và dấu tròn đỏ của Công an xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J6 màu đen được niêm phong vào phong bì đánh số 06 có chữ ký của Lê Anh T6, Thi Quốc T1, Nguyễn Tiến L1 – Trưởng Công an xã và dấu tròn đỏ của Công an xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- - Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L 01 xe mô tô hiệu Honda Dream, màu đen, mang biển kiểm soát 49N7 5512 có số máy C100ME8160164, số khung C100M8160164 tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
(Tất cả có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 17/10/2023).
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Thi Quốc T1 mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo; để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 18/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 124/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng Huy cùng đồng phạm
