|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 5 - 2024
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Long
Bà Nguyễn Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/3/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mai L, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)
HKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Nơi ở hiện nay: Samdech S, quận D, P, Campuchia.
- Người đại diện nhận văn bản tố tụng: Bà Kiều Thị Q, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc T, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Kiều Thị Q, sinh năm 1964 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai chị Trần Thị Mai L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Ngọc T được tự do tìm hiểu đã kết hôn và thực hiện việc đăng ký kết hôn ngày 26/5/2011 tại UBND xã Đ, huyện Y. Trong quá trình chung sống vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp với nhau, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau nhiều năm nay và không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Ngọc T.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu H Trần Nhật M, sinh ngày 22/9/2011 và cháu Hoàng Minh Q1, sinh ngày 19/6/2014. Hiện nay chị đang làm việc ở nước ngoài, cháu M và cháu Q1 hiện đang ở với bà ngoại là Kiều Thị Q. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu H Trần Nhật M và cháu Hoàng Minh Q1 cho chị nuôi dưỡng và đề nghị tạm giao cho bà ngoại là Kiều Thị Q nuôi dưỡng trong thời gian chị ở nước ngoài. Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Hoàng Ngọc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Mai L kết hôn với nhau năm 2011, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 02 con chung. Vừa qua, chị L đi xuất khẩu lao động, sau đó giữa anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn và đến nay không còn liên lạc với nhau, không còn tình cảm gì với nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị Trần Thị Mai L.
- Về con chung vợ chồng có 02 con chung là cháu H Trần Nhật M, sinh ngày 22/9/2011 và cháu Hoàng Minh Q1, sinh ngày 19/6/2014. Khi ly hôn anh đồng ý giao cháu M và cháu Q1 cho chị L nuôi dưỡng và đồng ý để hai cháu tiếp tục ở với bà ngoại Kiều Thị Q2. Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bà Kiều Thị Q2 trình bày:
Vợ chồng Linh T1 có 02 con chung là cháu H Trần Nhật M, sinh ngày 22/9/2011 và cháu Hoàng Minh Q1, sinh ngày 19/6/2014. Hiện nay cả cháu Q1 và cháu M đều đang do bà chăm sóc nuôi dưỡng. Việc chị L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì bà không can thiệp. Bà đề nghị Tòa án giao cháu Q1 và cháu M cho chị L nuôi dưỡng. Do chị L hiện nay đang ở nước ngoài nên bà đồng ý và đề nghị Tòa án tạm giao cháu Q1 và cháu M cho bà chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị L làm việc ở nước ngoài. Việc cấp dưỡng nuôi con tùy trách nhiệm của chồng Linh T1, bà không có đề nghị gì.
* Tòa án đã làm việc với cháu H Trần Nhật M và cháu Hoàng Minh Q1, các cháu đều trình bày ở với mẹ và bà ngoại từ nhỏ và có ý kiến muốn được tiếp tục ở với mẹ Trần Thị Mai L.
1
* Tại phiên tòa, chị L, anh T1 và bà Q2 đều đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của các đương sự và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mai L. Xử:
Cho chị Trần Thị Mai L được ly hôn với anh Hoàng Ngọc T.
Về con chung: Giao cháu H Trần Nhật M và cháu Hoàng Minh Q1 cho chị Trần Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục nhưng tạm giao cháu M và cháu Q1 cho bà Kiều Thị Q2 nuôi dưỡng trong thời gian chị L ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị Trần Thị Mai L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Mai L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Hoàng Ngọc T. Căn cứ công văn số: 7175/QLXNC-P3 ngày 10/4/2024 của Cục Q3 - Bộ C thì chị Trần Thị Mai L đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 17/02/2024. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý giải quyết vụ án nguyên đơn được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: chị L, anh T và bà Q2 đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
2
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mai L và anh Hoàng Ngọc T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 26/5/2011 tại UBND xã Đ, huyện Y nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh T. Xem xét đơn khởi kiện của chị L, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không hòa hợp được. Chị L xác định vợ chồng đã sống ly thân với nhau nhiều năm nay và không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Bản thân chị L hiện nay đang lao động tại nước ngoài, vợ chồng xa cách địa lý; anh T cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm và đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị L được ly hôn với anh T.
[4]. Về nuôi con chung: chị L và anh T có 02 con chung là cháu H Trần Nhật M, sinh ngày 22/9/2011 và cháu Hoàng Minh Q1, sinh ngày 19/6/2014. Hiện nay cháu M và cháu Q1 đang ở cùng mẹ và bà ngoại là Kiều Thị Q2 và các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị L có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung và anh T đồng ý giao cả hai con chung cho chị L nuôi dưỡng và tạm giao cho bà Kiều Thị Q2 chăm sóc nuôi dưỡng cháu N trong thời gian chị L ở nước ngoài. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu M và cháu Q1. Do hiện nay chị L đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu M và cháu Q1 cho bà Kiều Thị Q2 chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị L ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
[5]. Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Trần Thị Mai L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mai L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mai L được ly hôn với anh Hoàng Ngọc T.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Trần Nhật M1, sinh ngày 22/9/2011 và cháu Hoàng Minh Q1, sinh ngày 19/6/2014 cho chị Trần Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho bà Kiều Thị Q2 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị Trần Thị Mai L về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về án phí: chị Trần Thị Mai L phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001095 ngày 07/3/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo:
- Chị Trần Thị Mai L hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Anh Hoàng Ngọc T và bà Kiều Thị Q2 cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
3
Bản án số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 124/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Linh ly hôn Tuyền
