Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16/4/2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Thường và ông Trần Mai Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 28a/2024/TLST - HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Hồ Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988; nơi đăng ký HKTT trước khi xuất cảnh: Khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc tại: Cộng hòa S.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị C; địa chỉ: Khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, anh Hồ Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị Nguyễn Thị T1 đã tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 15/6/2007. Sau khi kết hôn và sống với nhau được một thời gian thì ly thân, chị T1 đi xuất khẩu lao động tại cộng hoà Séc, do khoảng cách về địa lý nên dần dần tình cảm của hai vợ chồng không còn gắn bó với nhau nữa, thời gian liên lạc với nhau cũng thưa dần nên tình cảm cũng đã phai nhạt giữa vợ chồng cũng không có tiếng nói chung. Vì vậy, anh T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.

Về con chung: Anh Hồ Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có 01 con chung tên Hồ Hà L, sinh ngày 19/02/2007. Hiện nay, con chung đang ở cùng với bà ngoại (bà Võ Thị C - mẹ chị T1). Nếu ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu chị Nguyễn Thị T1 trả tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn chị Nguyễn Thị T1: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho chị T1 thông qua người thân bà Võ Thị C (mẹ của chị T1) và niêm yết theo quy định, nhưng chị T1 vắng mặt, do đó không có ý kiến. Anh T không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay chị T1 đang cư trú tại Cộng hòa S. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu bà Võ Thị C cung cấp địa chỉ, tin tức của chị T1 cũng như yêu cầu bà C thông báo cho chị T1 biết để chị T1 có ý kiến về việc giải quyết việc ly hôn gửi Tòa án. Ngày 11/3/2024, bà Võ Thị C đã gửi đơn trình bày có nội dung như sau: Bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị T1. Hiện nay chị T1 đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Séc, chị T1 thường xuyên liên lạc về với gia đình bằng điện thoại, bà đã thông báo cho chị T1 biết việc anh T làm đơn ly hôn và Tòa án có yêu cầu chị T1 cung cấp địa chỉ ở nước ngoài, nhưng chị T1 không cung cấp được địa chỉ tại Cộng hòa Séc vì lý do chị T1 thường xuyên phải chuyển chỗ ở, không có địa chỉ cụ thể. Chị T1 cũng đồng ý ly hôn anh T. Về con chung: hiện chị T1 và anh T có 01 con chung là Hồ Hà L, đang do bà C nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị T1 có nguyện vọng được nuôi con. Đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của chị T1 về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của con chung Hồ Hà L: Cháu là con bố T và mẹ T1, nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị C trình bày: hiện nay bà C đang nuôi con chung của anh T và chị T1 là Hồ Hà L từ khi chị T1 đi nước ngoài cho đến nay, nếu ly hôn chị T1 có nguyện vọng được nuôi con và anh T muốn nhờ bà nuôi cháu thì bà cũng đồng ý. Về trả tiền chăm sóc, quản lý cháu L từ khi chị T1 đi nước ngoài cho đến nay thì bà C không yêu cầu anh T và chị T1 trả và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà C cam đoan sẽ nuôi cháu hộ cho anh T và chị T1 trong quá trình hai người đi làm ăn xa và bà sẽ trả cháu L cho chị T1 và anh T khi cả hai về nhận nuôi cháu. Do điều kiện bận việc gia đình nên bà không thể đến Tòa án tham gia phiên tòa được, đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt.

Anh T đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án, toàn bộ ý kiến giữ nguyên như trong đơn khởi kiện, bản tự khai đã gửi cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của anh Hồ Văn T, cho anh T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1; giao con chung Hồ Hà L, sinh ngày 19/02/2007 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; dành quyền khởi kiện về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

[1.1] Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung, nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 có hộ khẩu thường trú tại khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An, hiện đang làm việc và sinh sống tại Cộng hòa Séc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.

[1.3] Thủ tục hòa giải: Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 hiện vắng mặt tại nơi cư trú, đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị T1 vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

[1.4] Sự vắng mặt của đương sự: Anh Hồ Văn T đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tuy nhiên, do điều kiện sinh sống và làm việc anh T không tham gia phiên tòa được và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh T phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án.

Chị Nguyễn Thị T1 hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T1 thông qua người thân là bà Võ Thị C gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Đồng thời yêu cầu chị T1 trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được ý kiến phản hồi của chị T1. Tòa án đã tiến hành xác minh qua người thân của chị T1 là bà Võ Thị C và được cung cấp thông tin như sau: Bà C là mẹ đẻ của chị T1. Hiện nay chị T1 đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa S, có thường xuyên liên lạc về với gia đình bằng điện thoại, nhưng không cung cấp được địa chỉ tại vì lý do chị T1 thường xuyên thay đổi chỗ ở, không có địa chỉ cụ thể. Bà đã thông báo cho chị T1 biết việc anh T làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, chị T1 cũng đồng ý. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 29/3/2024, lần thứ hai vào ngày 16/4/2024 nhưng cả hai lần chị T1 đều vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc chị T1 vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/22/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy: Anh Hồ Văn T và chị Nguyễn Thị T1 kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 15/6/2007. Hôn nhân giữa anh T và chị T1 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cả hai chung sống với nhau một thời gian thì ly thân, sau đó chị T1 đi xuất khẩu lao động tại cộng hòa S. Do khoảng cách về địa lý nên tình cảm của hai người không còn gắn bó, thời gian liên lạc với nhau cũng thưa dần nên tình cảm cũng đã phai nhạt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng, gửi văn bản thông báo thụ lý vụ án, đề nghị chị T1 có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của anh T. Tuy nhiên chị T1 không có ý kiến. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị T1 không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị T1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Anh Hồ Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có con chung là cháu Hồ Hà L, sinh ngày 19/02/2007. Chị T1 đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, anh T không yêu cầu chị T1 chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[2.3] Tài sản chung, nợ: Anh Hồ Văn T chưa yêu cầu giải quyết và chị Nguyễn Thị T1 cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3] Về án phí: Anh Hồ Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hồ Văn T.

1. Quan hệ hôn nhân: Anh Hồ Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.

2. Con chung:

2.1. Giao con chung Hồ Hà L, sinh ngày 19/02/2007 cho anh Hồ Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

2.2. Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét.

Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

3. Án phí sơ thẩm: Anh Hồ Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001497 ngày 26/01/2024.

4. Quyền kháng cáo:

4.1. Anh Hồ Văn T vắng mặt và bà Võ Thị C1 vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

4.2. Chị Nguyễn Thị T1 đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hồng Kim, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Lưu HSVA. TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 124/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình T T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger